Đôi điều về sự nghiệp văn chương của nhà văn Nguyễn Huy
Tưởng
Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960), là người đến với văn chương muộn. Tuy
nhiên, ngay từ thời thanh thiếu niên, ông đã đến với nhiều hoạt động xã hội như truyền
bá quốc ngữ, Hướng đạo, và sau này là Văn hóa cứu quốc. Cách mạng tháng 8 thành
công, Nguyễn Huy Tưởng trở thành một trong những người lãnh đạo văn nghệ, trực
tiếp điều hành Hội Văn hóa cứu quốc những năm 1945 - 1946 và tiếp đó là cơ quan
Hội Văn nghệ Việt Nam trong kháng chiến. Thời kỳ trước cách mạng, ông chủ yếu
viết về đề tài lịch sử. Sau cách mạng, tác phẩm của ông gắn liền với những chủ đề lớn
của các giai đoạn cách mạng.
Những sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng khá phong phú và đa dạng. Ông có sở
trường về đề tài lịch sử, viết nhiều thể loại như tiểu thuyết, ký, kịch. Qua những sáng
tác của mình, ông đã tập trung miêu tả và ca ngợi tinh thần dân tộc và truyền thống
yêu nước của nhân ta qua các giai đoạn lịch sử. Nguyễn Huy Tưởng trân trọng, nâng
niu từng trang sử của dân tộc. Trong hoàn cảnh đất nước còn nô lệ, nhà văn thầm gửi
vào những trang sách tình cảm yêu nước, thương dân. Cảm hứng lịch sử của nhà văn
tuy lãng mạn bay bổng hoặc nhiều tính chất tưởng tượng chủ quan nhưng vẫn thiết tha
một tình cảm yêu nước, trọng chân lý, tôn trọng vai trò của quần chúng.
Những nhân tố tích cực trong sáng tác của ông ở thời kỳ trước các mạng đều
chịu ảnh hưởng trực tiếp của những quan điểm tiến bộ mà nhà văn đã tiếp nhận trong
thời kỳ hoạt động Văn hóa cứu quốc. Sau cách mạng, nhà văn tập trung ca ngợi chủ
nghĩa yêu nước anh hùng của nhân dân ta biểu hiện nhất trong thời kỳ Cách mạng
tháng 8 và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Qua những tác phẩm của mình, ông
sớm nhận thức được vai trò của quần chúng. Sản phẩm của ông đã dựng lên nhiều hình
ảnh, chân thực, sinh động về quần chúng cách mạng qua kịch Bắc Sơn (1946), ký sự
Cao Lạng (1951), tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô (1061)… Nguyễn Huy Tưởng luôn
có ý thức xác định mối quan hệ đúng đắn giữa người nghệ sỹ và quần chúng cách
mạng - Nghệ thuật phải phục vụ quần chúng cách mạng.
Nguyễn Huy Tưởng ca ngợi truyền thống bất khuất của dân tộc một cách say
sưa, chân thành. Tình cảm quý yêu và lòng tự hào dân tộc thấm đượm trên nhiều trang
sách. Từ một thanh niên yêu nước phấn đấu trở thành một nhà văn cách mạng, Nguyễn
Huy Tưởng đã đi qua nhiều chặng đường, để lại những đóng góp đáng quý. Nội dung
tinh thần dân tộc trong sáng tác của ông ngày càng sâu sắc trên cơ sở lập trường giai
cấp được củng cố vững chắc hơn. Ông thấy được lực lượng đông đảo quần chúng cách
mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng là nòng cốt của dân tộc. Trong những tác phẩm của
mình, nhà văn đã kết hợp giữa tính thời sự và tính lịch sử. Thời sự trong sáng tạo của
ông bắt nguồn từ tinh thần cách mạng và ý thức trách nhiệm của một nhà văn chiến sĩ.
Trong những ngày đầu kháng chiến, khi cần ca ngợi tinh thần yêu nước của quần
chúng cách mạng trong văn học, kịch Bắc sơn ra đời từ lý do đó. Dư luận báo chí lúc
bấy giờ xem Bắc Sơn mở ra một chặng đường cho nền kịch nước nhà.
Nguyễn Huy Tưởng yêu mến và hiểu biết khá kỹ lịch sử dân tộc. Ông vừa trân
trọng tính chân thực lịch sử vừa tô điểm cho lịch sử bằng sức tưởng tưởng phong phú
của mình. Ngòi bút của nhà văn thật huy hoàng tráng lệ, kết hợp những nét tươi tắn với
vẻ trang nghiêm lịch sử, vừa giữ vững khoảng cách với quá khứ, vừa tạo nên sự cảm
thông gần gũi thể hiện ở trong những tác phẩm như: Vũ Như Tô, Đêm hội Long Trì, An
Tư, Cột Đồng Mã Viện. Nhà văn vốn giàu lòng tin và mơ ước. Qua những sáng tác của