145 nam ngay mat thu khoa Huan nha yeu nuoc ba lan khoi nghia

145 nam ngay mat thu khoa Huan nha yeu nuoc ba lan khoi nghia

1 Page 1

▲back to top
KỶ NIỆM 145 NĂM NGÀY MẤT THỦ KHOA HUÂN - NHÀ YÊU NƯỚC BA LẦN KHỞI NGHĨA
CHỐNG PHÁP
Đất Việt đã sản sinh ra bao nhiêu người con yêu nước từ thời kỳ đầu dựng nước có
bà Trưng bà Triệu cho đến thời Lý, Trần, Lê, Đinh… trải dài từ Nam chí Bắc, biết bao
anh hùng đã ngã xuống cho bình yên tổ quốc trong đó không thể không kể đến một
người con vùng đất Nam bộ thời kỳ chống Pháp mà công lao của ông đã được sử sách
khắc ghi và tên ông trở thành tên đường và những ngôi trường nổi tiếng đó là Nguyễn
Hữu Huân hay còn gọi là Thủ khoa Huân.
Kể từ ngày 17 tháng 2 năm 1859, quân
Pháp nổ súng đánh chiếm thành Gia Định.
Chỉ trong vòng 8 năm, bằng những thủ đoạn
chính trị, quân sự, Pháp đã xâm chiếm toàn
bộ 6 tỉnh miền Nam. Trước sự nhu nhược,
chủ trương cầu hòa với Pháp của triều đình
Tự Đức, nhiều sĩ phu yêu nước ở miền Nam
đã tập hợp dân chúng khởi nghĩa chống
thực dân Pháp xâm lược. Từ năm 1859 đến
năm 1875, nhiều cuộc khởi nghĩa chống
Pháp đã nổ ra. Tiêu biểu là các cuộc khởi
nghĩa của Trương Định, Võ Duy Dương,
Nguyễn Trung Trực và Nguyễn Hữu
Huân…
Nguyễn Hữu Huân sinh năm 1816 tại
làng Mỹ Tịnh An, huyện Kiến Hưng, tỉnh
Định Tường; nay là xã Hòa Tịnh, huyện
Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Thuở nhỏ ông
Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân (1816-1875) thông minh và học giỏi. Tương truyền, năm
Nhâm Tý (1852) dưới triều Tự Đức, ông dự
thi Hương và đỗ đầu, nên được gọi là Thủ Khoa Huân. Sau đó, ông được bổ nhiệm và
dần trải đến chức Giáo thụ phủ Kiến An. Khi quân Pháp xâm lược ba tỉnh miền Đông
Nam Kỳ (trong đó có tỉnh Định Tường quê ông), cũng giống như nhiều nhà nho yêu
nước khác, ông đã cầm vũ khí đứng lên chống Pháp vào tháng 5-1859, và được cử giữ
chức Phó quản đạo. Năm 1861, ông cùng nghĩa quân hoạt động trên địa bàn từ Tân An
đến Mỹ Tho. Khoảng tháng 6 năm 1862, Nguyễn Hữu Huân đem nghĩa quân gia nhập
lực lượng Trương Định. Ngày 5-2-1863, quân Pháp tấn công vào căn cứ Tân Hòa (Gò
Công). Căn cứ thất thủ, Trương Định kéo quân về vùng Lý Nhơn (nay thuộc huyện
Duyên Hải, thành phố Hồ Chí Minh). Khi ấy, Nguyễn Hữu Huân về khởi nghĩa ở Bình
Cách (Tân An), trực tiếp lãnh đạo lực lượng nghĩa quân ở Định Tường. Quân Pháp tấn
công Bình Cách, Nguyễn Hữu Huân phải rút quân về Thuộc Nhiêu (nay thuộc Cai Lậy,
Tiền Giang) đây là khởi nghĩa đầu tiên của ông.
Tháng 6-1863, lúc ban đêm Pháp bất ngờ đem quân càn quét căn cứ Thuộc Nhiêu.
Đến cuối năm đó, thì ông rút quân đến An Giang gặp Võ Duy Dương (còn gọi là Thiên
Hộ Dương). Đầu năm sau (1864), ông cùng thủ lĩnh Dương chiêu mộ nghĩa binh để
khởi nghĩa lần thứ hai. Nguyễn Hữu Huân cho chuyển quân về vùng Thất Sơn, An
Giang tiếp tục chiến đấu. Bộ chỉ huy quân đội Pháp rất lo ngại nên gửi tối hậu thư, buộc
Tổng đốc An Giang là Phan Khắc Thận phải giao nộp Thủ Khoa Huân cho họ làm tội,

2 Page 2

▲back to top
viện lẽ ông này không tuân theo Hòa ước Nhâm Tuất (1862). Giáo sư Nguyễn Văn Hầu
ghi lại: Sau khi Đô đốc Nam Kỳ là De la Grandière biết tin Thủ Khoa Huân lẩn trốn ở
Thất Sơn, viên sĩ quan Pháp này buộc Tổng đốc An Giang phải bắt ông Huân giao cho
họ làm tội. Tổng đốc An Giang không thuận. Tức thời, Doudart de Lagrée được lệnh
đem 500 quân cùng đại bác từ Oudong (Campuchia) xuống huy hiếp thành An Giang.
Trước áp lực đó, Tổng đốc An Giang đành nhượng bộ.
Nghe tin ông bị bắt, vợ là Lê Thị Lộc đã đến An Giang đề đưa đơn xin tha cho chồng
nhưng không kịp. Bị giải đến Sài Gòn, mặc dù thực dân Pháp đem mọi thứ ra dụ hàng
nhưng Thủ Khoa Huân vẫn kiên quyết chối từ. Cuối cùng vào ngày 22 tháng 8 năm
1864, ông bị kết án 10 năm tù khổ sai và bị đày đi Cayenne, là một thuộc địa của Pháp
ở Nam Mỹ. Sau nửa thập kỷ bị giam cầm, ngày 4-2-1869, Pháp cho lệnh ân xá và đưa
ông về quản thúc tại nhà Tổng đốc Đỗ Hữu Phương, đồng thời cử ông làm giáo thọ dạy
bảo cho các “sinh đồ” ở Chợ Lớn với hy vọng lôi kéo ông về phía họ.
Vào năm 1872, lợi dụng điều kiện đi dạy học, Nguyễn Hữu Huân liên lạc với các sĩ
phu yêu nước và hội kín Hoa kiều Trường Phát, nhờ mua vũ khí để chuẩn bị tiến hành
khởi nghĩa lần thứ ba. Trong khi cuộc khởi nghĩa đang được chuẩn bị khẩn trương, nhờ
do thám nên Pháp bắt được thuyền chở vũ khí. Trước tình hình bất lợi đó, ông ra lệnh
giải tán, bí mật trốn khỏi nhà Tổng đốc Phương tìm đường về lại Mỹ Tho họp cùng Âu
Dương Lân khởi nghĩa. Lần này dân chúng theo Nguyễn Hữu Huân rất đông, trong số
đó có cả một số hương chức, hội tề, địa chủ... Địa bàn kháng chiến của ông kéo dài từ
Mỹ Tho đến Mỹ Quý - Cai Lây. Cuối năm 1874, quân Pháp có Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu
Phương đánh vào căn cứ ở Bình Cách. Cản ngăn không nổi, nghĩa quân bỏ chạy tán
loạn. Nguyễn Hữu Huân thoát được về Chợ Gạo, đến khoảng tháng 3 năm sau, ông trở
lại vùng Tân An để tập hợp lại lực lượng, thì bị bắt vì bị chỉ điểm. Nhà cầm quyền Pháp
(Tỉnh trưởng Mỹ Tho De Gailland (1873 -1875) ra lệnh bắt giam Nguyễn Hữu Huân ở
Mỹ Tho. Sau khi chiêu hàng không thành, họ kết án tử hình ông. Trước khi thụ hình,
ông nhắn vợ con tế sống mình và gửi vải vào cho ông đề thơ và câu liễn (Liễn tuyệt
mệnh) để thờ. Ngày 15 tháng Tư năm Ất Hợi (tức 19-5-1875), người Pháp cho tàu chở
Nguyên Hữu Huân xuôi theo dòng Bảo Định về Mỹ Tịnh An và hành quyết ông lúc 12
giờ trưa.
Nguyễn Hữu Huân làm thơ không nhiều, và hầu hết sáng tác của ông đều làm trong
thời kỳ kháng Pháp. Tuy nhiên, qua bài thơ Tặng vợ (làm lúc bị Pháp bắt lần đầu) bài
Tự thuật (làm khi bị đày sang Guyan), và nhiều bài khác như: Bửa củi, Cảm hoài, Thuật
hoài, Hò khoan ca, Khi được tha về đều tỏ rõ ý chí bền bỉ tranh đấu vì đất nuớc và nhân
dân của ông. Vì vậy, Nguyễn Hữu Huân được ghi nhận là “một hiện tượng đặc sắc của
văn học yêu nước thế kỷ 19 của Việt Nam: hiện tượng nhà thơ chiến sĩ.” Nguyễn Hữu
Huân là một người có tài về thơ văn. Thơ của ông mang nặng tình quê hương đất nước,
nêu cao tinh thần chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Khi bị lưu đày sang xứ người, ông
đã viết một bài thơ, thể hiện ý chí của mình:
“Muôn việc cho hay ở số trời,
Cái thân chìm nổi biết là nơi.
Mấy hồi tên đạn ra tay thử,
Ngàn dặm non sông dạo gót chơi.
Chén rượu Tân-đình nào luận tiệc,
Câu thơ cố quốc chẳng ra lời.
Cương thường bởi biết mang nên nặng,
Hễ đứng làm trai chuốc nợ đời.”

3 Page 3

▲back to top
Và khi bị kết án không để cho kẻ thù hành quyết mình, Nguyễn Hữu Huân đã cắn lưỡi
tự tử ngay tại pháp trường. Trước khi chết, ông tự làm hai câu thơ tự điếu mình:
“Duy công bất tựu, diệc quyên bất tử báo quân ân
Hữu chí nan thân, không uổng bách niên chiêu vật nghị”;
(Việc lớn không thành, báo chúa cũng đành liều một chết
Lòng ngay khó tỏ, miệng đời luống để luận trăm năm)
Bản dịch của Phạm Thiều
Nguyễn Hữu Huân hy sinh lúc chưa đầy 60 tuổi. Mộ và đền Thủ Khoa Huân được
xây dựng ngay tại quê nhà của ông. Ban đầu mộ được đắp bằng đất, đầu thế kỷ 20, cháu
ngoại của ông là Trần Văn Thông xây lại bằng đá xanh. Trong đền thờ có nhiều hoành
phi vài câu đối ca ngợi khí tiết của Thủ Khoa Huân. Trong suốt cuộc đời ngắn ngủi của
người anh hùng - Nguyễn Hữu Huân một lòng phục vụ đất nước và nhân dân, trong gian
khó vẫn kiên trì chống giặc Pháp xâm lược đến cùng. Như những thủ lãnh, nghĩa quân
chống Pháp ở Nam Kỳ, cuộc đời, sự nghiệp và tên tuổi của Nguyễn Hữu Huân sống mãi
cùng non sông đất Việt.
Hồng Hạnh