Minh Hương (thuộc Phiên Trấn). Dân chúng được khuyến khích khai phá ruộng rẫy,
phát triển kinh tế. Kể từ đây Đồng Nai trở thành một địa phận hành chính và chính
thức có tên trên bản đồ quốc gia Đại Việt.
Tận tâm tận lực trong vòng chưa đầy một năm, Nguyễn Hữu Cảnh đã thành
công rực rỡ trước mọi phương án do ông đề ra. Riêng công trình di dân đã được đa số
dân chúng miền Phú Xuân Ngũ Quảng hưởng ứng, nhất là nhân dân vùng Bố Chánh
Quảng Bình đã sốt sắng đáp lời kêu gọi của bậc lãnh tướng đồng hương mà họ hằng
kính yêu, nên đã hăng hái rủ nhau vào Đồng Nai lập nghiệp rất đông, điển hình bằng
những câu ca dao thời ấy:
“Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân cũng trải Đồng Nai cũng từng”
Chốn rừng rậm đầm lầy quanh vùng Đồng Nai Bến Nghé đã nhanh chóng trở
thành phủ Gia Định rộng lớn, đầy sinh khí..., mà Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đã
là vị Thống suất kinh lược có công đầu trong lớp người khai sơn ra phủ Gia Định, là
ân nhân mở đường đưa dân chúng đến cuộc sống hạnh phúc ấm no tại vùng đất mới
này:
“Nghĩa nhân chủng hằng tâm đắp xây Đại Việt,
Ơn biển trời lao khó gầy dựng Đồng Nai”
Không những ông là vị tướng khai biên xuất, nhà chính trị tài giỏi mà còn là
người giàu đức tính, đầy lòng nhân hậu, và có một tâm hồn thuần phác “Uống nước
nhớ nguồn”, với lòng yêu mến quê hương Tổ Quốc thiết tha. Đặc biệt, ông đặt nặng
tình lưu luyến chân thành với nơi sinh quán Quảng Bình của ông. Ông đã chắt chiu
đem từng tên của hai huyện Phước Long Tân Bình ở tận Quảng Bình vào đặt tên cho
vùng đất mới khai hóa này, mà đến nay phần lớn vẫn còn. Trước hết là hai huyện
Phước Long (vùng Đồng Nai) và Tân Bình (vùng Sài Gòn Bến Nghé). Rồi còn biết
bao thôn xã khóm ấp được mang tên Bình hoặc Tân như: Bình Dương, Bình Đông,
Bình Tây, Bình Tiên, Bình Trị, Bình Long, Bình Hòa, Bình Điền, Bình Phước, ...Tân
Định, Tân Hưng, Tân Khai, Tân Thuận, Tân Mỹ, Tân Phước, Tân Thạnh... Do công
nghiệp ấy, ân đức ấy, ông đã được nhân dân trong vùng kính trọng, họ tỏ lòng tôn kính
uy danh ông, không dám gọi tên húy, cả hai tên Kính và Cảnh luôn mà chỉ tôn xưng
bằng chức tước của ông là Quan Chưởng Cơ, quan Thống Suất và tôn quý gọi là Lễ
Công, Đức Ông.
Cuối năm 1698 công việc kinh lược ở vùng đất phía Nam được cơ bản hoàn
thành, Nguyễn Hữu Cảnh trở về bản doanh ở Bình Khương. Đến tháng 7-1699 Nguyễn
Hữu cảnh được cử đi dẹp loạn ở vùng biên cương miền Tây Nam bộ. Sau khi công
việc hoàn thành ông bị mắc bệnh trọng và qua đời ngày 16-5-1700 tại Rạch Gầm (Tiền
Giang).
Trên đường đưa thi hài ông về an táng tại quê hương Quảng Bình, quan quân
Triều Đình cho dừng lại vài ngày tại Cù lao Phố nơi ông đặt đại bản doanh trong
chuyến kinh lược phương Nam trước đó. Người dân Biên Hòa vô cùng kính trọng, ghi
sâu ân đức của ông đã đến tế lễ và lập ngôi huyền mộ vọng tưởng ông, nhân dân còn
cải đình Bình Hoành thành đền thờ ông để nối đời cúng tế.
Nguyễn Hữu Cảnh đã được chúa Nguyễn truy tặng là Hiệp tán công thần, Đạc
tiến Chưởng dinh, Tráng toàn hầu. Đến đời Nguyễn trung hưng, ông được truy phong
lên “Thượng đẳng công thần đặc tấn phụ quốc chưởng cơ” với tước Lễ thành hầu và
cho tùng tự tại Thái Miếu
Đối với vùng đất Đồng Nai - Gia Định, Nguyễn Hữu Cảnh có nhiều gắn bó và
công lao to lớn. Ông là người khai lập, đặt nền móng cho sự phát triển kinh tế - văn