Đôi điều về cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Xuân Diệu
(Kỷ niệm 35 ngày mất của nhà thơ Xuân Diệu 18/12/1985 – 18/12/2020)
Xuân Diệu (1916-1985) là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của phong trào
thơ mới. Thuở nhỏ ông học chữ Nho, chữ Quốc ngữ và cả tiếng Pháp với cha, năm
1927 xuống học ở Quy Nhơn, đỗ bằng thành chung năm 1934, sau đó học ở trường
Bưởi (Hà Nội) và trường Khải Định (Huế). Năm 1940, Xuân Diệu đỗ tham tá Nha
Thương chính vào làm ở Thương chính Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Nhờ
vậy, nhà thơ được sống ngót bốn năm ở đất Nam kỳ và có vốn sống để sau này viết
Miền Nam nước Việt và người Việt miền Nam. Sau 4 năm làm công chức, ông thôi
việc, ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn. Xuân Diệu là một con người dám sống hết
mình với nghiệp văn chương cao đẹp. Ông viết nhiều viết khỏe ở cả hai thời kỳ trước
và sau cách mạng.
Năm 1945, Xuân Diệu cho ra đời tập thơ văn xuôi Trường ca và tập thơ Gửi
hương cho gió (Nhà xuất bản Thời đại). Tháng 2/1945, Xuân Diêu làm cuộc diễn
thuyết đầu tiên trong đời mình với bài Sinh viên với quốc văn do Tổng hội sinh viên
Việt Nam tổ chức, bài này sau đó được xuất bản với tên mở rộng Thanh niên với quốc
văn.
Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ. Những đảng phái phản động, núp sau quân
chiếm đóng Tưởng Giới Thạch mưu đồ biểu tình chống Chính phủ Cách mạng lâm
thời... Xuân Diệu cho đăng những bài thơ Môt cuộc biểu tình, Tổng bất đình công,
Vịnh cúi cờ,... và đã cho xuất bản anh hùng ca Ngọn Quốc kỳ ca ngợi lá cờ đỏ sao vàng
và để cổ động Tổng tuyển cử đầu tiên 6/1/1946, Xuân Diệu đã cho xuất bản tráng khúc
Hội nghị non sông. Cách mạng tháng Tám đã đem lại những giá trị tinh thần hết sức
lớn lao và màu nhiệm. Từ đâu trong hoạt động sáng tạo văn nghệ, con đường lớn dẫn
đến tương lai đã mở ra với một lý tưởng cao đẹp, hiện lên trong hình ảnh và sức sống
vững vàng của nước cộng hòa trẻ tuổi ngay từ trong những ngày đầu Cách mạng, ở
Ngọn quốc kỳ tự hào và kiêu hãnh bay lượn trên bầu trời Tổ quốc, và trong lá phiếu
mà hàng triệu người đang cùng dơ cao để biểu thị quyền làm chủ và lòng quyết tâm đi
theo cách mạng. Ngọn Quốc Kỳ và Hội nghị non sông nói lên một cách vui mừng sự
có mặt của thơ ca trước yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng. từ một nhà thơ lãng mạn,
thoát ly, ông đã trở thành nhà thơ thời sự.Tháng 5/1946, Xuân Diệu sang thăm hữu
nghị nước Pháp với tư cách đại biểu các nhà báo Việt Nam trong phái đoàn ; sau
chuyến đi này, Xuân Diệu đã đăng trên báo Cứu quốc thiên phóng sự Từ trường bay
đến trường bay và cho xuất bản tập Việt Nam nghìn dặm, viết về đời sống và cuộc đấu
tranh của Việt kiều lính chiến và lính thợ tại Pháp từ 1940 đến 1946.
Kháng chiến toàn quốc, Xuân Diệu ở suốt chín năm trong chiến khu tại Việt Bắc.
Ông đã đi theo Đài Tiếng nói Việt Nam năm 1947 và phụ trách mỗi tuần nói một “câu
chuyện văn hoá” ở đài, các tuỳ bút này về sau xuất bản thành tập Việt Nam trở dạ. Ông
là uỷ viên chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam kháng chiến ; ông đã đãng trên tạp chí
Văn nghệ một loạt bài Tiếng thơ, giới thiệu và cổ vũ phong trào thơ của công nông
binh.
Năm 1949, Xuân Diệu được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam do hai nhà văn
Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Huy Tưởng giới thiệu. Trong giảm tô và cải cách ruộng
đất, ông là đội viên các “đội phát động” ở làng Còng (Thanh Hoá) và xã Cát Văn
(Nghệ An), đã cho xuất bản tập thơ mỏng Mẹ con về đề tài nông dân và ruộng đất.
Cũng từ năm 1949, ông bắt đầu đi nói chuyện thơ trong quần chúng, cho đến nay ông
đã trải qua ngót năm trăm cuộc bình thơ. Tháng 9 và tháng 10-1981, ông đươc mời