Kỷ niệm 25 năm ngày Việt Nam gia nhập hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á (ASEAN) 28/7/1995 – 28/7/2020
Ngày 8/8/1967 tại Băng Cốc (Thái Lan) đã thành lập Hiệp hội Các nước Đông
Nam Á (viết tắt tiếng Anh là ASEAN) lúc đó có 5 nước thành viên là Thái Lan,
Inđonexia, Philippin Xingapo và Malayxia. Ngày 28/7/1995, lá cờ đỏ sao vàng của
Việt Nam được kéo lên tại Thủ đô Bandar Seri Begawan, đã diễn ra lễ trọng thể kết
nạp Việt Nam làm thành viên chính thức của ASEAN. Tính đến năm 1999, ASEAN
gồm có 10 quốc gia thành viên, bao gồm: Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào,
Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.
Ngay từ khi mới ra đời, trong cương lĩnh của Đảng ta, vấn đề đoàn kết quốc tế
được coi là điều kiện quan trọng cho thắng lợi của cuộc cách mạng Việt Nam. Đường
lối mở rộng quan hệ Việt Nam – ASEAN trong thời kỳ đổi mới của Đảng cộng sản
Việt Nam chính là sự tiếp nối truyền thống luôn coi trọng và giữ gìn tình đoàn kết hữu
nghị giữa các dân tộc, đặc biệt là đối với các nước Đông Nam Á trong điều kiện mới.
Mục tiêu của ASEAN là nhằm tạo điều kiện hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa,
tăng cường và bảo vệ hoà bình khu vực, bảo đảm khu vực Đông Nam Á trở thành một
khu vực thực sự hoà bình, tự do và trung lập.
Quan điểm của ASEAN đối với Việt Nam giai đoạn 1967 - 1986
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) ra đời trong lúc thế giới đang diễn ra
cuộc chiến tranh lạnh và cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương đang trong thời kỳ
ác liệt. ASEAN chịu sự tác động mạnh mẽ của mâu thuẫn Xô – mỹ và mâu thuẫn giữa
các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Do vậy, vấn đề quan tâm hàng đầu
của ASEAN trong thời kỳ này là sự hợp tác về chính trị và an ninh để ứng phó với
những biến động của thời cuộc.
Những năm đầu của thế kỷ 70, tình hình khu vực và quốc tế có những diễn biến
quan trọng: sự phát triển mạnh mẽ của cuộc các mạng khoa học công nghệ đã tác động
sâu sắc tới sự phát triển của các quốc gia về kinh tế lẫn tư duy. Đặc biệt là sau cuộc
khủng hoảng dầu lửa năm 1973, các nước lớn điều chỉnh chiến lược của mình, ưu tiên
phát triển kinh tế. Những sự việc trên đã tác động một cách tích cực đến chính sách đối
ngoại của các nước ASEAN, biểu hiện ở việc ASEAN cố gắng bình thường hóa quan
hệ với các nước. Họ bày tỏ thái độ hoan nghênh trước sự kiện Hiệp định Pari được ký
kết và trong năm 1973 – 1974. ASEAN đã mời Việt Nam cử quan sát viên đến dự Hội
Nghị Ngoại trưởng các nước ASEAN.
Chiến thắng năm 1975 của Việt Nam làm thay đổi đáng kể cán cân lực lượng
Đông Nam Á. Tuy nhiên, quan hệ các nước ASEAN – Việt Nam trong thời kỳ này có
những quan điểm khác nhau. Những nước như Inđônêxia, Malaysia chủ trương tăng
cường quan hệ với Việt Nam và Đông Dương, đẩy mạnh hợp tác giữa hai nhóm nước
ASEAN và Đông Dương, đặc biệt là tạo điều kiện để Việt Nam ngàv càng gắn bó hơn
với ASEAN, tách dần ra khỏi ảnh hưởng của những nước lớn. Trong khi đó Philippin,
Xingapo và Thái Lan tỏ ra lo ngại lập trường của các nước Đông Dương, đặc biệt là
Việt Nam trong quan hệ với họ chưa thật sự thoát ra khỏi mặc cảm của quá khứ. Nói
chung ở thời kỳ này, các nước Đông Nam Á đều có chung một nguyện vọng là hòa
bình, ổn định, hợp tác và phát triển để tăng cường sức mạnh khu vực.
Từ cuối năm 1978, tình hình quan hệ Việt Nam với các nước ASEAN lại diễn
biến hết sức phức tạp. Việc Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác
ngày 03/11/1978 và việc Việt Nam giúp Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước
Campuchia lật đổ chế độ Pônpốt khiến các nước ASEAN lo ngại. Xuất phát từ những