255 nam Nam sinh Trinh Hoai Duc Danh nhan tieu bieu dat Dong Nai

255 nam Nam sinh Trinh Hoai Duc Danh nhan tieu bieu dat Dong Nai

1 Page 1

▲back to top
Kỷ niệm 255 năm: Năm sinh Trịnh Hoài Đức (1765-2020)
“Danh nhân tiêu biểu đất Đồng Nai”
Trịnh Hoài Đức là bậc khai quốc công thần của triều Nguyễn, một nhà văn hóa
lớn, một danh nhân tiểu biểu của vùng đất Đồng Nai, tài đức vẹn toàn, sống giản dị
thanh cao. Ông là một trong ba nhà thơ nổi danh “Gia Định tam gia thi”, cùng với Lê
Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh, đây là những học trò ưu tú của xử sĩ Võ Trường
Toản. Ông cũng là một nhà sử học, địa lý học và
văn hóa học…với những công trình nổi danh của
ông vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay
và mai sau, tiêu biểu là tác phẩm “Gia Định thành
thông chí”
Trịnh Hoài Đức sinh năm 1765 có tên là An,
tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, khi mất được vua ban tên
thụy là Văn Khác. Nội tổ Trịnh Hoài Đức là Châu,
miền Nam Trung Hoa cùng nhóm di thần “bài Mãn
phục Minh” do Trần Thượng Xuyên cầm đầu được
chúa Nguyễn cho định cư tại thôn Bình Tước, dinh
Trấn Biên.
Thân sinh Trịnh Hoài Đức là Trịnh Khánh,
trưởng thành trên đất Đồng Nai nổi tiếng học rộng
Tượng Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825) có văn tài nên được thăng tiến rất nhanh không may
chết sớm. Mẫu thân Trịnh Hoài Đức là người Việt
xứ Đồng Nai, quê ở thôn Bình Tước, dinh Trấn Biên.
Thuở nhỏ Trịnh Hoài Đức theo học cụ Võ Trường Toản. Ông thông minh,
chăm học. Tại đây ông kết bạn với Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh để sau này trở
thành ba vì sao lấp lánh trên bầu trời văn chương Nam bộ được mệnh danh là “Gia
Định Tam gia”.
Năm 1778, Trịnh Hoài Đức thi đỗ kỳ thi hương ở Gia Định. Ông làm quan trải
qua hai vua đầu triều Nguyễn, được tin dùng, giữ những chức vụ quan trọng như Hiệp
tổng trấn, thượng thư bộ Hộ, Phó tổng tài Quốc tử giám, Hiệp biện đại học sĩ, Thượng
thư bộ Lại, Thượng thư bộ Binh. Ông còn được vua cử đi sứ Trung Quốc và là chánh
chủ khảo cho những kỳ thi hội ở Huế. Trong quan trường, Trịnh Hoài Đức nổi bật là
một tấm gương về tài năng và đức độ thời đó.
Năm 1789, Trịnh Hoài Đức nhiệm chức Điền Tuấn sứ huyện Tân Bình, coi việc
mở mang vùng tam giác sông Mê Kông và xác định chế độ điền thổ, đồng thời lo trù
biện lương hướng cho quân đội. Sau ông đổi qua bộ Hình, tham dự việc xét nghĩa hình
luật văn án, kế nhiệm chức Thị giảng Đông cung (con trưởng vua Gia Long, Hoàng tử
Cảnh, sau truy tôn Anh Duệ Hoàng thái tử) và phụ tá Đông cung tọa trấn Diên Khánh
và Phú Yên. Năm 1794, Trịnh Hoài Đức ra nhiệm Ký lục dinh Trấn Định (tức Mỹ Tho
ngày nay).
Mùa hạ năm 1801, quân Nguyễn thâu phục kinh đô Phú Xuân (tức Huế ngày
nay), Lê Văn Duyệt và Tổng Viết Phúc độc quân ra cứu thành Quy Nhơn, Trịnh Hoài
Đức nhiệm chức Hộ bộ Tham tri, chuyên trách lo binh lương tiếp tế.
Năm 1802, sau khi Gia Long hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước, ông
được thăng chức Thượng thư bộ Hộ, rồi sung chức Chánh sứ dẫn đầu phái đoàn gồm
Binh bộ Tham Tri Ngô Nhân Tịnh, Binh bộ Tham Tri Huỳnh Ngọc Uyển sang đi sứ
nhà Thanh. Đến tháng 8 năm 1803, ông trở về Thăng Long. Sau đó, năm 1804 ông hộ

2 Page 2

▲back to top
giá vua Gia Long về Xuân Phú. Về kinh sư, Trịnh Hoài Đức vẫn giữ chức Thượng thư
Bộ hộ. Đến tháng 2-1805, triều đình phái Chưởng Trung quân Nguyễn Văn Trương
làm Gia Định Lưu trấn, khiến Trịnh Hoài Đức làm Hiệp Lưu Trấn.
Tháng 1-1808, Gia Định trấn đổi thành Gia Định Thành. Tháng 9-1808, đặt
chức Gia Định thành Tổng trấn. Nguyễn Văn Trương được về kinh, Nguyễn Văn Nhân
làm Gia Định Tổng trấn. Trịnh Hoài Đức làm Hiệp Tổng trấn. Tháng 7-1812, triều
đình rút Trịnh Hoài Đức về kinh, cải nhiệm Lễ bộ Thượng thư, kiêm quản Khâm
Thiên giám. Năm 1813, Trịnh Hoài Đức cải lãnh lại bộ Thượng thư. Tháng 1-1816,
Nguyễn Hoàng Đức nhiệm Gia Định Tổng trấn. Tháng 11 năm ấy, Thế Tổ cho rằng
Gia Định là một thành lớn phương Nam, lại có việc giao thiệp với lân bang rất hệ
trọng, cần phải có người giỏi trấn nhiệm mới được, bèn phái Lại bộ Thượng thư Trịnh
Hoài Đức nhiệm chức Gia Định Hiệp Tổng trấn.
Tháng 9-1819, Nguyễn Hoàng Đức mất, triều đình phái Chưởng Hữa quân
Nguyễn Văn Nhân làm gia Gia Định thành Tổng trấn, khiến Trịnh Hoài Đức vẫn lãnh
Hiệp Tổng trấn để phụ tá Nguyễn Văn Nhân. Tháng 12-1819, vua Thế tổ mất, Hoàng
tử thứ 4 là Phúc Hiệu nối ngôi, đối niên hiệu làm Minh Mạng, tức Thánh Tổ triều
Nguyễn. Đầu năm 1820, Gia Định Tổng trấn Nguyễn Văn Nhân về kinh tiến yết, Trịnh
Hoài Đức tạm lãnh chức vụ Tổng trấn. Tháng 6-1920, Thánh Tổ triệu Trịnh Hoài Đức
về kinh, lãnh việc bộ Lại. Lòng yêu quý và tin tưởng của vua Minh Mạng đối với
Trịnh Hoài Đức còn qúy hơn tiên hoàng. Trịnh Hoài Đức trở thành nguyên lão của
triều Nguyễn và làm cố vấn trọng yếu cho vua Minh Mạng.
Tháng 8-1821, vua Minh Mạng thăng cho Trịnh Hoài Đức làm Hiệp biện Đại
học sĩ, nhưng lãnh Lại bộ Thượng thư kiêm Binh bộ Thượng thư. Tháng 9-1821 Trịnh
Hoài Đức hộ giá vua Minh Mạng Bắc tuần các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Thanh
Hóa. Thánh 10 đến Bắc Thành (Thăng Long). Tháng 12, triều đình nhà Thanh sai
Quảng Tây Án sát sứ Phan Cung Thần làm Sách Phong sứ qua Việt Nam. Ngày 19-12,
Trịnh Hoài Đức và Bắc Thành Tổng trấn Lê Chất đều sung chức Thị vệ Đại Thần,
tham dự điến lễ. Xong việc, Trịnh Hoài Đức lại theo vua Minh Mạng trở về Nam.
Tháng 3-1822, Trịnh Hoài Đức sung chức Chánh Chủ Khảo khoa thi Hội.
Tháng 9-1822, ông dâng lên hai bộ sách “Lịch Đại Kỷ Nguên” và bộ “Khang Tế Lục”
lên vua Minh Mạng. Tháng 7-1823, Trịnh Hoài Đức bị ốm nặng dâng biểu cầu xin
được trở về gia quán tại Gia Định nhưng vì luyến tiếc và để thưởng công lao của ông
từ trước đến nay, nhà vua ra chỉ dụ cho ông tạm ngưng các việc trong hai bộ để có thì
giờ tĩnh dưỡng, cho ngự y đến săn sóc thuốc men và ban cho nhiều sâm quý để dưỡng
bệnh. Tháng 9-1823, Trịnh Hoài Đức khỏi bệnh, dâng biểu tạ ơn, trở lại lãnh chức
Thượng thư bộ Lại và bộ Lễ. Nhưng mới được hơn 10 ngày, ông lại dâng biểu xin nghỉ
3 tháng về thăm nhà, vua Minh Mạng buộc lòng phải đồng ý. Tháng 10-1823, ông về
tới Gia Định để lo liệu việc nhà. Tháng 3-1824, Trịnh Hoài Đức trở ra kinh, lại lãnh lại
bộ Thượng thư kiêm quản Lễ bộ sự vụ. Đến tháng 7-1824, vua Minh Mạng khiến biên
sửa Nguyễn triều Ngọc Diệp và Tôn Phả, Trịnh Hoài Đức sung chức Tổng tài để điều
khiển công việc.
Ngoài việc hoạt động về chính trị, Trịnh Hoài Đức còn là nhà văn hóa ưu tú.
Ông đã để lại một sự nghiệp rất độ sộ gồm nhiều tác phẩm văn chương và công trình
nghiên cứu về lịch sử, địa lý, văn hóa. Đó là các tập thơ: “Bắc xứ thi tập, Gia Định
tam gia thi” (cùng với Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh), “Cấn trai thi tập”. Các
công trình nghiên cứu lịch sử, văn hóa: Bộ “Lịch đài kỷ nguyên” và bộ “Khương tế
lục”, bộ địa chí “Gia Định thành thông chí”. Đặc biệt là bộ “Gia Định thành thông
chí” ghi lại đẩy đủ nhất, toàn diện nhất diện mạo xứ Đàng Trong thời kỳ khai phá lập

3 Page 3

▲back to top
nghiệp của đoàn người Việt Nam tiến. Sau này Quốc sử quán triều Nguyễn cũng đã
dựa vào nguồn tư liệu quan yếu của “Gia Định thành thông chí” để biên soạn các bộ
sử và hiện tại bộ sử này vẫn còn nguyên giá trị của nó khi muốn nghiên cứu, tìm hiểu
về vùng đất Nam bộ xưa. Người Pháp cũng sớm biết đến giá trị của “Gia Định thành
thông chí” nên đã tổ chức dịch ra tiếng Pháp và xuất bản tác phẩm này từ năm 1863,
sau khi tôn tính xong Nam kỳ.
Các tác phẩm văn chương của Trịnh Hoài Đức chứa chan một tình yêu quê
hương đất nước Việt Nam, thương cảm những cuộc đời nghèo khổ, vẽ nên những bức
tranh lao động, khai phá, sinh hoạt, cảnh đẹp trong trẻo của vùng đất Đồng Nai – Nam
bộ buổi đầu sơ khai, thanh bình và yên ả. Ông chính là một trong ba ngôi sao sáng nhất
bầu trời văn chương Nam bộ thời kỳ đó.
Đến tháng 3 năm Ất Dậu (1825) sau một thời gian lâm bệnh, Trịnh Hoài Đức
qua đời tại Phú Xuân. Linh cửu của ông được đưa về chôn cất tại làng Bình Trước,
tỉnh Biên Hòa, đây là nơi ông ra sinh ra và lớn lên. Lăng mộ ông hiện còn tại phường
Trung Dũng, thành phố Biên Hòa. Ông chính là nhân vật tiêu biểu cho cả vùng đất
Biên Hòa - Đồng Nai, những thế hệ người Đồng Nai hôm nay luôn biết ơn và tự hào
về ông, một tài năng lớn, một nhân cách lớn, là danh nhân văn hóa đã góp phần đặt
nền móng cho hào khí Đồng Nai, văn hóa Đồng Nai.
Để tỏ lòng tri ân, biết ơn, và tưởng nhớ đến ông! Nhân dịp kỷ niệm 255 năm:
Năm sinh Trịnh Hoài Đức “Danh nhân tiêu biểu đất Đồng Nai”. Tôi xin được ôn lại
tiểu sử về cuộc đời, sự nghiệp, văn chương và những cống hiến to lớn của ông với lịch
sử nước nhà nói chung và đối với nhân dân Biên Hòa - Đồng Nai nói riêng. Nhằm giáo
dục, tuyên truyền cho thế hệ trẻ về lịch sử, đặc biệt là mảnh đất “địa linh nhân kiệt” -
Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử, văn hóa... đây sẽ là minh chứng, là tư liệu “sống” để
truyền thụ, bồi đắp thêm tình yêu, niềm tự hào về quê hương, đất nước cho các thế hệ
học sinh. Nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm trong học tập, lao động, biết
vượt qua khó khăn, gian khổ, có ý chí và khát vọng phấn đấu để trở thành những công
dân có ích, đóng góp tích cực vào sự nghiệp dựng xây và phát triển đất nước, làm rạng
danh thêm truyền thống quê hương con người Đồng Nai.
Mai Mai