nhân rộng phong trào công nhân ở vùng đồn điền cao su để sẵn sàng chờ đón thời cơ
của cách mạng (1943).
Tháng 3/1944, đồng chí bắt liên lạc được với tổ chức và được giao nhiệm vụ hoạt
động trong các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, Quảng Lợi, Xa Can, Xa Cát trong vai
trò giác ngộ, vận động và xây dựng phong trào của phu cao su. Dưới sự dẫn dắt của
đồng chí, những đảng viên đầu tiên đã đằm mình vào phong trào công nhân, hoạt động
rất hiệu quả.
Ngày 23/8/1945, đồng chí được phân công phụ trách chỉ huy khởi nghĩa giành
chính quyền ở các đồn điền cao su và hai huyện Hớn Quản, Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.
Thời gian này, đồng chí tham gia Quân đội, chỉ huy giành chính quyền ở Lộc Ninh,
tham gia Tỉnh ủy lâm thời, phụ trách quân sự phía Bắc tỉnh Thủ Dầu Một.
Tháng 11/1946 đến tháng 12/1950, đồng chí làm Chính trị viên Chi đội 1 (sau là
Trung đoàn 301), Trung đoàn Uỷ viên, Tỉnh uỷ viên Thủ Dầu Một; Tham mưu trưởng
Khu 7, Khu 8, Quân khu Sài Gòn - Chợ lớn Quân khu Uỷ viên.
Tháng 01/1951-10/1957, đồng chí làm Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ; Phó
Cục trưởng Cục Tác chiến, Cục phó thứ nhất Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu Quân
đội nhân dân Việt Nam. Tháng 12/1958, đồng chí được Đảng, Nhà nước phong quân
hàm Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 8/1961-5/1976, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Quân
lực, Phó Tổng Tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam;
Ủy viên Quân uỷ Miền;Tư lệnh Khu 9, Phó Bí thư Khu uỷ, Bí thư Quân Khu ủy…
Tháng 6/1981, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Tháng 12/1984, đồng chí
được Đảng, Nhà nước thăng quân hàm Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam…
Đồng chí là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khoá IV, V, VI, VII,
VIII; Bí thư Trung ương Đảng khoá VII; Uỷ viên Bộ Chính trị các khoá V, VI, VII,
VIII; Thường vụ Bộ Chính trị khoá VIII; Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (từ tháng 9/1992 đến tháng 12/1997); Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (từ năm 1997 đến tháng 4/2001); Đại biểu Quốc hội các khoá VI, VIII, IX.
Từ một thanh niên của miền quê nghèo dưới ách thống trị của đế quốc thực dân,
sớm được giác ngộ lý tưởng cách mạng và trở thành đảng viên cộng sản trẻ tuổi, cuộc
đời và sự nghiệp của Đại tướng Lê Đức Anh gắn liền với các bước thăng trầm và sự
phát triển của cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa của Đảng
Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đồng chí đã gắn bó suốt đời, mang hết sức lực, trí tuệ
và phẩm chất của người cộng sản để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng đầy gian khổ
hy sinh với những thử thách vô cùng cam go ác liệt nhưng rất đỗi vinh quang và tự
hào.
Đối với đồng chí Lê Đức Anh, chính những thử thách nghiệt ngã của ba cuộc
chiến tranh và sự rèn luyện tự giác của bản thân đã hun đúc nên con người đồng chí và
trở thành một cán bộ lãnh đạo cao cấp của Quân đội, của Đảng và Nhà nước ta. Trên
nhiều cương vị được giao, đồng chí đã cống hiến hết tư duy, trí tuệ, sức lực của mình
cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ đất nước: Nhiều điều phân tích, đánh giá,
dự liệu, quyết đoán và đóng góp trực tiếp của đồng chí mang tầm chiến lược đã góp
phần cùng tập thể Bộ Chính trị lãnh đạo đưa đất nước vượt qua những giai đoạn khó
khăn hiểm nghèo và mở ra giai đoạn mới của sự ổn định, phát triển đi lên.
Mặc dù, thân mang nhiều trọng trách quan trọng trong bộ máy chính trị của Đảng
và Nhà nước ta, nhưng đồng chí vẫn sống một cuộc đời giản dị, vô cùng thanh bạch.
Từ không gian làm việc, từ đồ dùng trong nhà đến bữa ăn, quần áo mặc và nếp sinh