Ky niem 45 nam giai phong mien Nam chien dich Ho Chi Minh lich su

Ky niem 45 nam giai phong mien Nam chien dich Ho Chi Minh lich su

1 Page 1

▲back to top
KỶ NIỆM 45 NĂM GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (30/4/1975 – 30/4/2020)
CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ
Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 là trang sử hào hùng, một mốc son chói lọi
trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng
thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước là
một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí
tuệ con người, đã đi vào lịch
sử thế giới như một chiến
công vĩ đại của thế kỷ XX,
một sự kiện có tầm quan trọng
quốc tế to lớn và có tính chất
thời đại sâu sắc. Chiến dịch
Hồ Chí Minh được hình thành
và triển khai trong bối cảnh
lịch sử đặc biệt của cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu
nước năm 1975.
Chuẩn bị chiến dịch
Ngày 8/4/1975, Bộ Chính
trị và Quân ủy Trung ương
quyết định thành lập Bộ chỉ
huy chiến dịch giải phóng Sài
Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng
Gòn - Gia Định. Tư lệnh: Đại tướng Văn Tiến Dũng, Chính ủy: Phạm Hùng, các Phó
tư lệnh: Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Lê Đức Anh, Trung tướng Đinh
Đức Thiện. Ngày 12/4, bổ sung thêm Trung tướng Lê Trọng Tấn Phó tư lệnh, Trung
tướng Lê Quang Hòa - Phó chính ủy.
Ngày 9 đến 20/4/1975, chiến dịch Xuân Lộc, Bộ Quốc phòng chỉ đạo Bộ Tư lệnh
Miền mở chiến dịch tiến công thị xã Xuân Lộc, khu vực phòng thủ trọng yếu trong
tuyến phòng thủ cơ bản (Biên Hòa - Xuân Lộc - Bà Rịa - Vũng Tàu), tiêu diệt lực
lượng địch phòng giữ ở phía đông Sài Gòn tạo thuận lợi cho chiến dịch Hồ Chí Minh.
Lực lượng địch có Sư đoàn bộ binh 18 (Quân đoàn 3), 1 liên đoàn biệt động quân, 1
trung đoàn thiết giáp, 9 tiểu đoàn bảo an, được máy bay, pháo binh chi viện hỏa lực.
Trong quá trình chiến đấu được tăng viện Lữ đoàn dù 1, Trung đoàn bộ binh 8 (Sư
đoàn 5), 1 liên đoàn biệt động quân, 1 trung đoàn thiết giáp. Lực lượng ta tham chiến
gồm Quân đoàn 4 (thiếu Sư đoàn 9), Sư đoàn bộ binh 6 (Quân khu 7), 1 trung đoàn
tăng thiết giáp, 1 trung đoàn pháo binh, cuối chiến dịch được tăng cường trung đoàn
95 (Sư đoàn bộ binh 325) và 1 đại đội xe tăng. Bộ tư lệnh Quân đoàn 4, Khu ủy Khu 7
trực tiếp chỉ huy chiến dịch.
Mở màn chiến dịch (ngày 9 tháng 4), ta đồng loạt đột phá Xuân Lộc và tiểu khu
Long Khánh nhưng không thành công. Ở ngã ba Dầu Giây, Sư đoàn 6 tập kích chiếm 5
chốt của địch làm chủ đường 1A (đoạn Hưng Nghĩa - đèo Mẹ Bồng Con). Sáng ngày
10/4, ta tiếp tục đột phá Xuân Lộc, chiếm sân bay, đánh Lữ đoàn dù số 1 vừa đổ quân
xuống Tân Phong. Theo dõi chặt chẽ cuộc chiến đấu trên hướng Xuân Lộc, nắm chắc
quá trình phát triển tiến công trên hướng khác, Bộ Quốc phòng chỉ đạo Bộ Chỉ huy
chiến dịch thay đổi cách đánh, chuyển đội hình tiến công sang bao vây Xuân Lộc và
đánh viện. Trong các ngày từ 15 đến 17 tháng 4, ta lập kích tiêu diệt nhiều sinh lực
địch ở ngã ba Dầu Giây, đánh lui các đợt phản kích của địch từ Biên Hòa đến. Bị thiệt

2 Page 2

▲back to top
hại nặng, ngày 18 tháng 4, địch phải bỏ thị xã Xuân Lộc tháo chạy. Trong chiến dịch
này, ta đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 18, Lữ đoàn dù 1, uy hiếp tuyến phòng thủ của
địch ở Biên Hòa - Hố Nai.
Ngày 15 đến 20/4/1975, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho
các quân đoàn và lực lượng vũ trang địa phương:
Hướng tây bắc Sài Gòn: Quân đoàn 3 do Thiếu tướng Vũ Lăng (Tư lệnh), Đại tá
Đặng Vũ Hiệp (Chính ủy) chỉ huy. Hướng bắc và đông bắc Sài Gòn: Quân đoàn 1 do
Thiếu tướng Nguyễn Hòa (Tư lệnh), Thiếu tướng Hoàng Minh Thi (Chính ủy) chỉ huy.
Hướng đông và đông nam Sài Gòn: Quân đoàn 4 do Thiếu tướng Hoàng cầm (Tư
lệnh), Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện (Chính ủy) chỉ huy ; Quân đoàn 2 do Thiếu
tướng Nguyễn Hữu An (Tư lệnh), Thiếu tướng Lê Linh (Chính ủy) chỉ huy. Hướng tây
và tây nam Sài Gòn: Đoàn 232 do Trung tướng Lê Đức Anh (Tư lệnh), Thiếu tướng Lê
Văn Tưởng (Chính ủy) chỉ huy cùng lực lượng vũ trang Quân khu 8 có nhiệm vụ cắt
đường số 4, đánh chiếm Biệt khu Thủ đô và Tổng nha cảnh sát ngụy.
Ngày 23/4/1975, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 66/QP-QĐ giao Tổng cục Kỹ
thuật tiếp quản căn cứ Cam Ranh để tổ chức thành căn cứ liên hợp bảo đảm kỹ thuật
và hậu cần khu vực trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật.
Ngày 24/4/1975, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 70/QP-QĐ thành lập Trung đoàn
ô tô vận tải cơ động 526 trực thuộc Cục Vận tải, Tổng cục Hậu cần, làm nhiệm vụ vận
chuyển quân sự phục vụ chiến đấu.
Ngày 26 đến ngày 30/4 Chiến Dịch Hồ Chí Minh
Lực lượng địch có Quân đoàn 3 (4 sư đoàn bộ binh 22, 25, 5 và 18), 3 liên đoàn biệt
động quân, sư đoàn thủy quân lục chiến, 3 lữ dù, 1 lữ đoàn kỵ binh thiết giáp, 19 tiểu
đoàn pháo, hơn 800 máy bay, 862 tàu hải quân, tàn quân các quân đoàn 1, 2 và lực
lượng dự bị chiến lược, các đơn vị cảnh sát và phòng vệ dân sự trên địa bàn Quân khu
3. Địch tổ chức phòng thủ Sài Gòn bằng 3 tuyến: Tuyến ngoài cách Sài Gòn 30 - 50km
do 5 sư đoàn, 2 lữ đoàn đóng giữ. Tuyến ven đô (Hóc Môn, cầu Bông, Vĩnh Trạch...)
do biệt động quân và bảo an, dân vệ đóng giữ. Tuyến nội đô do lực lượng cảnh sát,
phòng vệ dân sự, các lực lượng bảo vệ căn cứ, các lực lượng thuộc Biệt khu Thủ đô
đảm nhiệm.
Lực lượng ta tham gia chiến dịch, bộ đội chủ lực có các quân đoàn 1, 2, 3, 4, Đoàn
232 (tương đương quân đoàn) với 15 sư đoàn bộ binh, 6 trung đoàn, 4 tiểu đoàn và
một số đại đội đặc công, biệt động, 3 lữ đoàn, trung đoàn và 8 tiểu đoàn pháo binh, các
đơn vị binh chủng khác, một bộ phận không quân, hải quân. Lực lượng vũ trang địa
phương có 2 trung đoàn và nhiều tiểu đoàn, đại đội bộ binh, 6 trung đoàn đặc công, 1
lữ đoàn biệt động với 60 tổ, dân quân tự vệ và nhân dân trong địa bàn chiến dịch.
Cách đánh của ta là chia cắt chiến lược, bao vây chặn, diệt chủ lực ở tuyến ngoài, tổ
chức binh đoàn binh chủng hợp thành tiến sâu vào nội đô đánh chiếm các mục tiêu
chiến lược then chốt là: Bộ tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tư lệnh
Biệt khu Thủ đô, Bộ tư lệnh Cảnh sát quốc gia, dinh Độc Lập, trong đó có dinh Độc
Lập là hợp điểm chiến dịch, kết hợp với nổi dậy của nhân dân giành chính quyền ở cơ
sở. Hướng chủ yếu bắc và tây bắc, đặc biệt là tây bắc. Hướng hiểm yếu và quan trọng
đông và đông nam.
Sau các chiến dịch và đợt chiến đấu tạo thế (bắt đầu từ ngày 9/4 đến 26/4/1975), ta
bao vây áp sát Sài Gòn trên năm hướng: Hướng bắc là Quân đoàn 1, tây bắc là Quân
đoàn 3, đông là Quân đoàn 4 và Quân đoàn 2, tây nam là Đoàn 232, nam là chủ lực
Quân khu 8. 17 giờ ngày 26/4, Chiến dịch Hồ Chí Minh Bắt đầu.
Ở hướng đông và đông nam, từ ngày 26 đến 28 tháng 4, ta chọc thủng tuyến phòng

3 Page 3

▲back to top
thủ vòng ngoài, đập tan sự chống cự của các sư đoàn địch. Trên hướng khác, ta tiêu
diệt các lực lượng địch ngăn chặn, chiếm lĩnh các địa bàn quan trọng. Chiều ngày 28
tháng 4, Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn mất hiệu lực chỉ huy. Địch rối loạn về
chiến lược. Ngày 29, ta tổng công kích trên toàn mặt trận, tiêu diệt các lực lượng địch
ngăn chặn chiếm tuyến ven đô. Sáng 30, ta thọc sâu vào nội đô đánh chiếm các mục
tiêu kế hoạch. 11giờ 30 phút ngày 30/4/1975, quân ta chiếm và cắm cờ trên nóc dinh
Độc Lập, bắt toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, buộc tổng thống Dương Văn Minh
tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Cùng với đòn tiến công quân sự, nhân dân nội thành,
ngoại thành Sài Gòn nổi dậy giành chính quyền ở 107 điểm. Nắm vững thời cơ chiến
lược, ngày 1/5, quân và dân Khu 8, Khu 9 tiến công và nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã
toàn bộ lực lượng còn lại cùa địch ở đồng bằng sông Cửu Long, giải phóng hoàn toàn
miền Nam Việt Nam.
Kết quả của chiến dịch
Quân ta tiêu diệt và làm tan ra khoảng 250.000 tên địch, gồm 7 sự đoàn bộ binh, 5
lữ đoàn dù, kỵ binh thiết giáp, pháp binh, 4 sư đoàn không quân… Thu 500 khẩu pháp,
trên 400 xe tăng, xe bọc thép, 800 máy bay, 600 tàu chiến, 3.000 xe quân sự, 270.000
khẩu súng các loại; đập tan hệ thống chính quyền Sài Gòn từ trung ương tới cơ sở, giải
phóng thành phố Sài Gòn - Gia Định và các tinh Tân An, Gò Công, Hậu Nghĩa, Tây
Ninh, Bình Dương, Biên Hòa, Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu... tạo điều kiện cho các
Quân khu 8 và 9 giải phóng đồng bằng sông Cửu Long, các đảo ở vùng biển Tây Nam
Tổ quốc, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Chiến dịch Hồ Chí Minh là một điển hình về sự đoàn kết, chặt chẽ giữa các lực
lượng, các binh chủng, quân chủng, sự kết hợp trên quy mô lớn giữa tiến công quân sự
và nổi dậy của quần chúng; đòn quyết chiến chiến lược táo bạo, kịp thời, chính xác,
kết thúc chiến tranh. Chiến dịch thể hiện sự chỉ đạo chỉ huy thống nhất của Bộ Chính
trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của
nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
10 Trận đánh nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam / Đặng Việt Thủy. Nxb Hồng Đức.
2018
Yên Yên