hại nặng, ngày 18 tháng 4, địch phải bỏ thị xã Xuân Lộc tháo chạy. Trong chiến dịch
này, ta đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 18, Lữ đoàn dù 1, uy hiếp tuyến phòng thủ của
địch ở Biên Hòa - Hố Nai.
Ngày 15 đến 20/4/1975, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho
các quân đoàn và lực lượng vũ trang địa phương:
Hướng tây bắc Sài Gòn: Quân đoàn 3 do Thiếu tướng Vũ Lăng (Tư lệnh), Đại tá
Đặng Vũ Hiệp (Chính ủy) chỉ huy. Hướng bắc và đông bắc Sài Gòn: Quân đoàn 1 do
Thiếu tướng Nguyễn Hòa (Tư lệnh), Thiếu tướng Hoàng Minh Thi (Chính ủy) chỉ huy.
Hướng đông và đông nam Sài Gòn: Quân đoàn 4 do Thiếu tướng Hoàng cầm (Tư
lệnh), Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện (Chính ủy) chỉ huy ; Quân đoàn 2 do Thiếu
tướng Nguyễn Hữu An (Tư lệnh), Thiếu tướng Lê Linh (Chính ủy) chỉ huy. Hướng tây
và tây nam Sài Gòn: Đoàn 232 do Trung tướng Lê Đức Anh (Tư lệnh), Thiếu tướng Lê
Văn Tưởng (Chính ủy) chỉ huy cùng lực lượng vũ trang Quân khu 8 có nhiệm vụ cắt
đường số 4, đánh chiếm Biệt khu Thủ đô và Tổng nha cảnh sát ngụy.
Ngày 23/4/1975, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 66/QP-QĐ giao Tổng cục Kỹ
thuật tiếp quản căn cứ Cam Ranh để tổ chức thành căn cứ liên hợp bảo đảm kỹ thuật
và hậu cần khu vực trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật.
Ngày 24/4/1975, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 70/QP-QĐ thành lập Trung đoàn
ô tô vận tải cơ động 526 trực thuộc Cục Vận tải, Tổng cục Hậu cần, làm nhiệm vụ vận
chuyển quân sự phục vụ chiến đấu.
Ngày 26 đến ngày 30/4 Chiến Dịch Hồ Chí Minh
Lực lượng địch có Quân đoàn 3 (4 sư đoàn bộ binh 22, 25, 5 và 18), 3 liên đoàn biệt
động quân, sư đoàn thủy quân lục chiến, 3 lữ dù, 1 lữ đoàn kỵ binh thiết giáp, 19 tiểu
đoàn pháo, hơn 800 máy bay, 862 tàu hải quân, tàn quân các quân đoàn 1, 2 và lực
lượng dự bị chiến lược, các đơn vị cảnh sát và phòng vệ dân sự trên địa bàn Quân khu
3. Địch tổ chức phòng thủ Sài Gòn bằng 3 tuyến: Tuyến ngoài cách Sài Gòn 30 - 50km
do 5 sư đoàn, 2 lữ đoàn đóng giữ. Tuyến ven đô (Hóc Môn, cầu Bông, Vĩnh Trạch...)
do biệt động quân và bảo an, dân vệ đóng giữ. Tuyến nội đô do lực lượng cảnh sát,
phòng vệ dân sự, các lực lượng bảo vệ căn cứ, các lực lượng thuộc Biệt khu Thủ đô
đảm nhiệm.
Lực lượng ta tham gia chiến dịch, bộ đội chủ lực có các quân đoàn 1, 2, 3, 4, Đoàn
232 (tương đương quân đoàn) với 15 sư đoàn bộ binh, 6 trung đoàn, 4 tiểu đoàn và
một số đại đội đặc công, biệt động, 3 lữ đoàn, trung đoàn và 8 tiểu đoàn pháo binh, các
đơn vị binh chủng khác, một bộ phận không quân, hải quân. Lực lượng vũ trang địa
phương có 2 trung đoàn và nhiều tiểu đoàn, đại đội bộ binh, 6 trung đoàn đặc công, 1
lữ đoàn biệt động với 60 tổ, dân quân tự vệ và nhân dân trong địa bàn chiến dịch.
Cách đánh của ta là chia cắt chiến lược, bao vây chặn, diệt chủ lực ở tuyến ngoài, tổ
chức binh đoàn binh chủng hợp thành tiến sâu vào nội đô đánh chiếm các mục tiêu
chiến lược then chốt là: Bộ tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tư lệnh
Biệt khu Thủ đô, Bộ tư lệnh Cảnh sát quốc gia, dinh Độc Lập, trong đó có dinh Độc
Lập là hợp điểm chiến dịch, kết hợp với nổi dậy của nhân dân giành chính quyền ở cơ
sở. Hướng chủ yếu bắc và tây bắc, đặc biệt là tây bắc. Hướng hiểm yếu và quan trọng
đông và đông nam.
Sau các chiến dịch và đợt chiến đấu tạo thế (bắt đầu từ ngày 9/4 đến 26/4/1975), ta
bao vây áp sát Sài Gòn trên năm hướng: Hướng bắc là Quân đoàn 1, tây bắc là Quân
đoàn 3, đông là Quân đoàn 4 và Quân đoàn 2, tây nam là Đoàn 232, nam là chủ lực
Quân khu 8. 17 giờ ngày 26/4, Chiến dịch Hồ Chí Minh Bắt đầu.
Ở hướng đông và đông nam, từ ngày 26 đến 28 tháng 4, ta chọc thủng tuyến phòng