Giáo sư Tôn Thất Tùng - người thầy thuốc mẫu mực của nhân dân
Giáo sư Tôn Thất Tùng sinh ngày 10 tháng 5 năm 1912 tại Thanh Hóa. Cha
ông qua đời khi ông mới được ba tháng tuổi, và năm đó mẹ ông đưa gia đình về Huế
sinh sống. Xuất thân trong một gia đình hoàng tộc nhà Nguyễn, là dòng dõi của chúa
Nguyễn Phúc Khoát. Nhưng ông sớm gạt bỏ ý tưởng truyền thống “học để ra làm
quan” mà rẽ sang một hướng khác là học nghề y để chữa bệnh cứu người. Từ đó, ông
đã sống trọn vẹn với nghề y bằng tất cả tài năng và tình yêu thương con người.
Giáo sư Tôn Thất Tùng là một nhà khoa học mẫu mực, ông đã mô tả chính xác
các mạch máu trong gan khi ông 23 tuổi. Ở tuổi 27, ông trở thành “cha đẻ của cắt gan
có kế hoạch” - phương pháp mổ gan mới mà sau này được các nhà khoa học trân
trọng gọi là “phương pháp Tôn Thất Tùng”. Suốt cuộc đời khoa học của mình, ông đã
góp cho nền y học Việt Nam và thế giới hơn 120 công trình nghiên cứu y học xuất sắc;
được nhận nhiều giải thưởng, nhiều danh hiệu cao quý: Huy chương phẫu thuật quốc
tế Lannelongue, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Lao động hạnh Nhất, Huân
chương Chiến sỹ hạng Nhất, Anh hùng Lao động… Ông đã có những cống hiến lớn
lao cho y học Việt Nam và y học thế giới.
Suốt chín năm kháng chiến chống Pháp trường kỳ, gian khổ, hình ảnh Bác sĩ
Tôn Thất Tùng với cây súng kíp trên vai vượt núi băng rừng từ Bình Đà - Ba Thá -
Chiêm Hóa - Tuyên Quang đến Điện Biên Phủ, ông vừa tận tình cứu chữa thương,
bệnh binh, xây dựng các tuyến mổ xẻ, vừa giảng dạy đội ngũ kế cận, ở đâu ông cũng
gắn điều trị với nghiên cứu khoa học, và đào tạo sinh viên phát triển ngành y tế. Cùng
với Giáo sư Đặng Văn Ngữ, ông đã góp phần sản xuất thành công penicilline phục vụ
thương, bệnh binh.
Hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông trở về Hà Nội, làm Giám đốc Bệnh viện Phủ
Doãn (nay là Bệnh viện Việt Đức). Ông bắt đầu tổng kết, công bố những công trình
nghiên cứu của mình với việc xuất bản cuốn sách “Cắt gan” và nhiều công trình khác.
Ông được cả thế giới biết đến với phương pháp mổ gan Việt Nam. Ngoài nghiên cứu
các bệnh lý về gan - mật - tiêu hóa, cũng là người đầu tiên mổ tim ở Việt Nam năm
1958. Năm 1964, Việt Nam lần đầu tiên mổ tim phổi máy thành công thúc đẩy cho các
lĩnh vực khác phát triển. Ông là người đặt nền móng cho phương pháp điều trị ung thư
gan bằng phẫu thuật kết hợp dùng miễn dịch và rất nhiều công trình khoa học khác.
Giáo sư luôn coi trọng việc tiếp thu y học phương Tây để xây dựng phát triển nền y
học của nước ta và trở thành người tiên phong trong việc áp dụng các kỹ thuật phát
triển ngành ngoại khoa Việt Nam. Dưới sự dạy dỗ, dìu dắt của ông, một thế hệ đầu đàn
của các chuyên ngành ngoại khoa đã trưởng thành: Tiêu hóa gan mật có Giáo sư
Nguyễn Văn Vân, Giáo sư Nguyễn Đình Hối, Giáo sư Đỗ Kim Sơn, Giáo sư Đỗ Đức
Vân; tim mạch - lồng ngực có Giáo sư Đặng Hanh Đệ… Giáo sư là người thầy mẫu
mực nhất là trong ứng dụng kỹ thuật. Quan điểm của ông là phải khởi đi từ thực
nghệm, thảo luận, trao đổi kỹ lưỡng với chuyên gia và sau đó mới có có thể ứng dụng
phẫu thuật trên người. Đặc biệt trong cuộc mổ, ông rất chú ý đến từng động tác của các
học trò: từ cách buộc một mũi chỉ cho đến cầm kéo cắt chỉ.
Đối với ông, một nhà ngoại khoa, một phẫu thuật viên không chỉ có đôi bàn tay
mổ xẻ hàng loạt… mà còn phải có kiến thức sâu rộng về các chuyên ngành khác. Việc
bồi dưỡng nâng cao kiến thức phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, suốt cuộc
đời. Một di sản vô cùng quan trọng của Giáo sư Tôn Thất Tùng chính là tư duy nghiên
cứu khoa học. Đó chính là sáng tạo khoa học phải dựa trên nền tảng thực tế, lấy thực tế