Dấu ấn của loại lịch cổ này thể hiện ở cách gọi tên tháng: Một, chạp, giêng, hai…
hay như những từ chỉ ngày như: “mồng” (mồng một, mồng hai…), “rằm”. “Mồng”,
“rằm” là từ chỉ những ngày đầu tháng và giữa tháng trong tiếng Việt cổ, ngày nay
chúng ta vẫn quen dùng nhưng không còn hiểu rõ nghĩa nữa. Lịch cổ của người Việt
còn thể hiện qua cách gọi bằng hệ đếm can chi.
Loại lịch này được xây dựng trên cơ sở một trình độ thiên văn cao. Chiếc rìu đá
tìm thấy ở Bắc Sơn (Lạng Sơn) có niên đại từ 6000 năm TCN có khắc hình chòm sao
Vũ Tiên, ở núi Hương Tích thuộc dãy Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) còn dấu tích một đài quan
sát thiên văn của người Việt cổ mà dân gian quen gọi là đài Trang Vương. Ngoài ra,
các họa tiết trên trống đồng tiêu biểu như trống đồng Hoàng Hạ (Hà Tây cũ) được các
nhà nghiên cứu đánh giá là một loại lịch thời Hùng Vương, là bức thiên đồ cho phép
xác định được các ngày tiết trong năm…
Về đặc điểm chính: Hệ thống lịch pháp thời Hùng Vương được xây dựng do nhu
cầu tính toán thời tiết để trồng trọt, vì vậy nó là sản phẩm của vùng văn hóa nông
nghiệp, mà Việt Nam là nước có hoạt động nông nghiệp từ sớm.
Cấu tạo của loại lịch này, phản ánh rõ lối tư duy tổng hợp và biện chứng của văn
hóa nông nghiệp với sự kết hợp cả chu kỳ mặt trăng lẫn mặt trời; đồng thời
phản ánh sự biến động thời tiết có tính chu kỳ của vũ trụ. Đây là loại lịch dùng hệ can
chi để chỉ thứ tự và gọi tên các đơn vị thời gian, nó được xây dựng trên cơ sở các quan
sát thiên văn đạt đến một trình độ cao; phản ánh đúng các diễn biến thời tiết, gắn bó
mật thiết với các hiện tượng liên quan đến mặt trăng như: thủy triều, khí triều, sự sinh
trưởng của tự nhiên… gắn liền với phương thức canh tác nông nghiệp ở vùng Bách
Việt (kéo dài từ nam sông Dương Tử đến bắc Việt Nam).
3. Nghệ thuật đúc đồng
Qua các di vật đồng thau được phát hiện với số lượng lớn tại các di tích khảo cổ,
đã khẳng định sự tồn tại của một nền văn hóa đồng thau phát triển rực rỡ ở Việt Nam,
đó là văn hóa Đông Sơn.
Nền văn hóa đồng thau này là sự kế thừa phát triển tiếp nối liên tục qua các giai
đoạn Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun. Trong các di chỉ thuộc văn hóa Phùng
Nguyên chỉ tìm thấy những mẩu xỉ đồng hay gỉ đồng, sang những giai đoạn sau các
công cụ bằng đồng được tìm thấy ngày càng nhiều.
Người Việt thời Hùng Vương đã làm ra rất nhiều vật dụng bằng đồng thau. Công
cụ lao động có lưỡi cày, lưỡi liềm, rìu là những công cụ rất phổ biến, ngoài ra còn rất
nhiều công cụ sản xuất cỡ nhỏ như dùi, đục, dao khắc, nạo, giũa, lưỡi câu… Dụng cụ
sinh hoạt có ấm đồng, thố đồng, chậu đồng, thau đồng, đồ trang sức và các loại nhạc
khí: trống đồng, chuông… Vũ khí bằng đồng cũng rất đa dạng, phong phú, có loại
dùng cho đánh xa, đánh gần, mỗi loại có nhiều kiểu khác nhau: giáo, lao, kiếm, qua,
mũi tên đồng, dao găm các loại… Với một khối lượng đồ đồng lớn như vậy cho thấy
việc sản xuất lên tới quy mô lớn đòi hỏi việc khai mỏ và luyện kim cũng phát triển
theo.
Sản phẩm đặc trưng của nền văn hóa Đông Sơn:
Nền văn hóa Đông Sơn có niên đại cách nay khoảng 2.500-2.800 năm, là giai
đoạn phát triển rực rỡ nhất của thời kỳ đồ đồng ở nước ta. Trong số nhiều loại hình
như công cụ, vũ khí, đồ trang sức… được chế tác bằng bàn tay khéo léo, óc thẩm mỹ
cao của tổ tiên chúng ta, thì trống đồng chính là hiện vật tiêu biểu nhất. Số lượng trống
đồng tìm thấy ở nước ta không chỉ nhiều về số lượng, tinh vi về mỹ thuật, kỹ năng chế
tác mà còn độc đáo về kiểu dáng; đa dạng về hình thức, phong cách trang trí, cách sắp
xếp hoa văn.