Ky niem ngay gio To Hung Vuong

Ky niem ngay gio To Hung Vuong

1 Page 1

▲back to top
Kỷ niệm Ngày giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 Âm lịch):
Những thành tựu tiêu biểu của nền văn hóa thời đại Hùng Vương
Thời đại Hùng vương là thời đại có thật, mở đầu lịch sử dân tộc, là thời kỳ đỉnh
cao của một nền văn minh cổ xưa mà người Việt đã xây dựng. Tất cả những gì tốt đẹp
nhất, đặc sắc nhất của nền văn hóa Việt Nam, của con người Việt Nam đều bắt nguồn
từ đó và chúng ta cùng những thế hệ cháu con phải đời đời biết ơn, ghi nhớ, khắc ghi.
Những thành tựu của nền văn hóa thời đại Hùng Vương có rất nhiều, nhưng tiêu
biểu và rực rỡ nhất phải nói đến là hệ thống chữ viết, lịch pháp thiên văn và nghệ thuật
đúc đồng, mà trống đồng chính là sản phẩm đặc trưng.
1. Hệ thống chữ viết
Theo Đại Việt Sử ký toàn thư, thời kỳ đầu của nước Văn Lang, tổ tiên ta đã sử
dụng những sợi dây thắt nút để làm phương tiện truyền đạt và thống kê. Những sợi dây
có to, có nhỏ, dài, ngắn khác nhau, mỗi nút thắt thể hiện một con số hay một thông tin
nào đó; còn sợi dây có thể chỉ đối tượng, điều đó giống như sự kết hợp của các chữ cái
để tạo thành những từ chỉ ý nghĩa của sự vật.
Dấu vết một loại chữ của người Việt cổ đã được tìm thấy trên một số di vật thuộc
văn hóa Đông Sơn như trên qua đồng, trống đồng, lưỡi, cày đồng… đó là những ký
hiệu có đường nét khác nhau, không đối xứng và có những ký hiệu được lặp lại, đứng
ở những vị trí khác nhau trong dòng, đó là những chữ viết chứ không phải những hoa
văn trang trí. Loại chữ viết này có cấu tạo gồm 2 bộ phận: bộ phận hình tuyến với số
lượng các vạch các đoạn cong và vị trí sấp, ngửa của các đoạn cong tạo nên các ký
hiệu khác nhau, tức những chữ khác nhau. Bộ phận thứ hai là bộ phận tượng hình vẽ
lại những hình ảnh thực tế biểu hiện khái niệm như hình mặt trời hoặc mang ý nghĩa
biểu thị với những ký hiệu quy ước.
Hệ thống chữ viết thời đại Hùng Vương đã được khẳng định dựa trên ghi chép
của sử sách và các di vật nói riêng. Từ thế kỷ XV, vua Lê Thánh Tông cũng đã đặt vấn
đề về một hệ thống chữ viết thời quốc sơ. Trong cuốn Thanh Hóa quan phong của
Vương Duy Trinh thời Nguyễn đã dẫn ra bằng chứng về chữ Mường và lập luận:
“Người ta thường nói rằng nước ta không có chữ, tôi nghĩ rằng không phải. Thập châu
vốn là đất nước ta. Trên châu có chữ, lẽ nào dưới chợ lại không? Lối chữ châu là chữ
nước ta đó…”; Nhà bác học Trương Vĩnh Ký trong sách mẹo An Nam cũng khẳng
định rằng trước thời Bắc thuộc, cha ông ta có chữ viết riêng, đó là thứ chữ ghi âm.
Thực tế, phần lớn các dân tộc ở phía Bắc nước ta đều có chữ viết riêng, trong
đó có người Mường, tộc người có nguồn gốc gần gũi nhất với người Việt. Vì vậy, nếu
nói một dân tộc với nền văn hóa phát triển cao như dân tộc Việt (Kinh) không có chữ
viết là điều không hợp lý chút nào. Những gì mà chúng ta thu thập được hiện nay đã là
minh chứng rõ nhất, xác thực nhất về một hệ thống văn tự riêng của của tổ tiên chúng
ta thời Hùng Vương dựng nước.
2. Hệ thống lịch pháp, thiên văn
Trong hoạt động sản xuất, nhất là trong nông nghiệp rất cần biết đến những biến
động của khí hậu, thời tiết, vòng quay bốn mùa, vì vậy mọi nền lịch pháp đều là sản
phẩm của các vùng văn hóa nông nghiệp với ba loại lịch: lịch âm, lịch dương và lịch
âm dương.
Nước ta nằm ở khu vực có hoạt động nông nghiệp, trồng lúa nước sớm nhất trên
thế giới, vì vậy có thể nói rằng, thời Hùng Vương đã có một hệ thống lịch riêng của
mình mà hiện nay vẫn để lại một số dấu ấn. Lịch của chúng ta là loại lịch thuộc thứ
lịch âm dương, có sự kết hợp cả chu kỳ mặt trăng và mặt trời.

2 Page 2

▲back to top
Dấu ấn của loại lịch cổ này thể hiện ở cách gọi tên tháng: Một, chạp, giêng, hai…
hay như những từ chỉ ngày như: “mồng” (mồng một, mồng hai…), “rằm”. “Mồng”,
“rằm” là từ chỉ những ngày đầu tháng và giữa tháng trong tiếng Việt cổ, ngày nay
chúng ta vẫn quen dùng nhưng không còn hiểu rõ nghĩa nữa. Lịch cổ của người Việt
còn thể hiện qua cách gọi bằng hệ đếm can chi.
Loại lịch này được xây dựng trên cơ sở một trình độ thiên văn cao. Chiếc rìu đá
tìm thấy ở Bắc Sơn (Lạng Sơn) có niên đại từ 6000 năm TCN có khắc hình chòm sao
Vũ Tiên, ở núi Hương Tích thuộc dãy Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) còn dấu tích một đài quan
sát thiên văn của người Việt cổ mà dân gian quen gọi là đài Trang Vương. Ngoài ra,
các họa tiết trên trống đồng tiêu biểu như trống đồng Hoàng Hạ (Hà Tây cũ) được các
nhà nghiên cứu đánh giá là một loại lịch thời Hùng Vương, là bức thiên đồ cho phép
xác định được các ngày tiết trong năm…
Về đặc điểm chính: Hệ thống lịch pháp thời Hùng Vương được xây dựng do nhu
cầu tính toán thời tiết để trồng trọt, vì vậy nó là sản phẩm của vùng văn hóa nông
nghiệp, mà Việt Nam là nước có hoạt động nông nghiệp từ sớm.
Cấu tạo của loại lịch này, phản ánh rõ lối tư duy tổng hợp và biện chứng của văn
hóa nông nghiệp với sự kết hợp cả chu kỳ mặt trăng lẫn mặt trời; đồng thời
phản ánh sự biến động thời tiết có tính chu kỳ của vũ trụ. Đây là loại lịch dùng hệ can
chi để chỉ thứ tự và gọi tên các đơn vị thời gian, nó được xây dựng trên cơ sở các quan
sát thiên văn đạt đến một trình độ cao; phản ánh đúng các diễn biến thời tiết, gắn bó
mật thiết với các hiện tượng liên quan đến mặt trăng như: thủy triều, khí triều, sự sinh
trưởng của tự nhiên… gắn liền với phương thức canh tác nông nghiệp ở vùng Bách
Việt (kéo dài từ nam sông Dương Tử đến bắc Việt Nam).
3. Nghệ thuật đúc đồng
Qua các di vật đồng thau được phát hiện với số lượng lớn tại các di tích khảo cổ,
đã khẳng định sự tồn tại của một nền văn hóa đồng thau phát triển rực rỡ ở Việt Nam,
đó là văn hóa Đông Sơn.
Nền văn hóa đồng thau này là sự kế thừa phát triển tiếp nối liên tục qua các giai
đoạn Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun. Trong các di chỉ thuộc văn hóa Phùng
Nguyên chỉ tìm thấy những mẩu xỉ đồng hay gỉ đồng, sang những giai đoạn sau các
công cụ bằng đồng được tìm thấy ngày càng nhiều.
Người Việt thời Hùng Vương đã làm ra rất nhiều vật dụng bằng đồng thau. Công
cụ lao động có lưỡi cày, lưỡi liềm, rìu là những công cụ rất phổ biến, ngoài ra còn rất
nhiều công cụ sản xuất cỡ nhỏ như dùi, đục, dao khắc, nạo, giũa, lưỡi câu… Dụng cụ
sinh hoạt có ấm đồng, thố đồng, chậu đồng, thau đồng, đồ trang sức và các loại nhạc
khí: trống đồng, chuông… Vũ khí bằng đồng cũng rất đa dạng, phong phú, có loại
dùng cho đánh xa, đánh gần, mỗi loại có nhiều kiểu khác nhau: giáo, lao, kiếm, qua,
mũi tên đồng, dao găm các loại… Với một khối lượng đồ đồng lớn như vậy cho thấy
việc sản xuất lên tới quy mô lớn đòi hỏi việc khai mỏ và luyện kim cũng phát triển
theo.
Sản phẩm đặc trưng của nền văn hóa Đông Sơn:
Nền văn hóa Đông Sơn có niên đại cách nay khoảng 2.500-2.800 năm, là giai
đoạn phát triển rực rỡ nhất của thời kỳ đồ đồng ở nước ta. Trong số nhiều loại hình
như công cụ, vũ khí, đồ trang sức… được chế tác bằng bàn tay khéo léo, óc thẩm mỹ
cao của tổ tiên chúng ta, thì trống đồng chính là hiện vật tiêu biểu nhất. Số lượng trống
đồng tìm thấy ở nước ta không chỉ nhiều về số lượng, tinh vi về mỹ thuật, kỹ năng chế
tác mà còn độc đáo về kiểu dáng; đa dạng về hình thức, phong cách trang trí, cách sắp
xếp hoa văn.

3 Page 3

▲back to top
Dựa trên nhiều tiêu chí, các nhà khoa học đã chọn ra 10 chiếc trống đẹp nhất, cổ
nhất và tiêu biểu nhất trong tất cả các trống đã được phát hiện ở Việt Nam: Trống đồng
Ngọc Lũ (Hà Nam); Trống đồng Hoàng Hạ (Hà Nội); Trống đồng Sông Đà (Hòa
Bình); Trống đồng Cổ Loa (Hà Nội); Trống đồng Đền Hùng (Phú Thọ); Trống đồng
Miếu Môn (Hà Nội); Trống đồng pha Long (Lào Cai); Trống đồng Phú Xuyên (Hà
Tây cũ); Trống đồng Quảng Xương (Thanh Hóa); Trống đồng Vũ Bị (Hà Nam). Tất cả
các loại trống đồng nêu trên đều có kích thước khác nhau, đường kính từ 50 – 93cm,
chiều cao từ 29- 61cm.
Như vậy, tất cả những thành tựu nói trên đã biểu thị rõ nét của một nền văn hóa
rực rỡ, nó cho thấy óc tư duy và tài nghệ của tổ tiên chúng ta… đã có tác động sâu sắc
đến toàn bộ nền kinh tế, tạo những thay đổi lớn của xã hội thời Hùng Vương bấy giờ.
Mặc dù, trải qua hàng ngàn năm với sự thăng trầm của đời sống xã hội, thiên tai địch
họa, nhưng những dấu ấn, di sản, văn hóa, tinh thần của thời đại đó vẫn được lưu
truyền và phát huy đến tận mai sau.
Nhân kỷ niệm ngày Giỗ tổ Hùng Vương năm nay, xin được nhắc đến những
thành tựu tiêu biểu của nền văn hóa thời đại Hùng Vương như một sự tri ân đối với tổ
tiên. Là thế hệ hậu sinh, chúng tôi luôn thể hiện niềm tự hào và ý thức cội nguồn dân
tộc giống nòi “con cháu Quốc Tổ Hùng Vương”; thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đến bậc
anh hùng đã có công khai sáng lịch sử và văn hoá dân tộc, anh hùng dựng nước.
Nguyện trân trọng, gìn giữ, bảo lưu những giá trị văn hóa quý báu của tổ tiên, tiếp tục
có những nghiên cứu dựa trên sự kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa thời đại
Hùng Vương để lại, góp phần “xây dựng nền văn hóa Việt Nam phát triển tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) đề ra.
Đinh Nhài