Từ 1957 đến đầu năm 1961, các đơn vị đầu tiên của lực lượng vũ trang Khu 7
đã thực hiện một số trận đánh, đặc biệt trận đánh quận lỵ Dầu Tiếng, ngày 11-8-1958,
tiêu diệt và làm chủ toàn bộ căn cứ 1 tiểu đoàn lính “cộng hòa” ; Trận đánh vào trụ sở
cơ quan MAAG của Mỹ đóng tại nhà máy của BIF Biên Hòa do đặc công biệt động
Biên Hoà thực hiện ngày 9-7-1959, diệt 2 tên cố vấn Mỹ ; Đánh trận Tua 2, ở Tây
Ninh, ngày 26-1-1960, diệt và làm bị thương, bắt sống nhiều tên lính, thu nhiều vũ khí
trang bị, mở đầu cho phong trào Đồng khởi ở miền Đông ; Trận đánh sụp ngụy quyền
cơ sở ở Thủ Dầu Một, trong cuộc Đồng khởi 1960, đã giải phóng nhiều xã, ấp, thôn;....
và rất nhiều chiến công vang rội của lực lượng vũ trang Quân Khu 7.
Trong giai đoạn “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy, lực lượng vũ trang Quân
Khu 7 đã đánh nhiều trận tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch. Trong đó tiêu biểu nhất là
chiến dịch Bình Giã, đánh bại chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của Mỹ, diệt
và làm bị thương 1.755 tên địch. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường B2 ta mở chiến
dịch lớn cấp Sư đoàn.
Trong giai đoạn “chiến tranh cục bộ”, bộ đội chủ lực Khu 7 phát triển lên 2
Trung đoàn và quyết tâm đánh Mỹ, diệt ngụy, thực hành các cuộc tổng tiến công và
nổi dậy trong năm 1968, đánh vào các sào huyệt của địch ở Sài Gòn, giành thắng lợi
lớn, góp phần buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và chịu đàm phán với ta ở Pari.
Sau đó, quân dân miền Đông Nam bộ và cực Nam Trung bộ quyết định mở chiến dịch
đường 14 Phước Long và giành thắng lợi quan trọng, ta giải phóng một tỉnh mà địch
không lấy lại được. Cùng với chiến thắng Buôn Ma Thuột - Tây Nguyên và các chiến
thắng ở miền Đông Nam bộ, Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong
năm 1975.
Công tác chuẩn bị đã sẵn sàng, lực lượng tại chỗ của Sài Gòn – Gia Định và đặc
công biệt động có 30 tiểu đoàn thực hiện nhiệm vụ là đánh chiếm các mục tiêu then
chốt có thể chiếm được, phát động nhân dân nổi dậy làm chủ, tạo mọi điều kiện tại chỗ
để các quân đoàn tiến vào giải phóng Sài Gòn và chiếm giữ 14 cây cầu trên các ngả
đường tiến về Sài Gòn (chủ yếu do Lữ 316 đặc công biệt động và trung đoàn đặc công
116 thực hiện). Ngay sau khi có lệnh, trong hai ngày 29 và 30-04-1975 quân dân miền
Đông Nam Bộ đã cùng các binh đoàn chủ lực thực hiện cuộc tổng tiến công và nổi dậy
thành công, kết thúc thắng lợi Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, dành lại độc lập – tư
do – thống nhất đất nước Việt Nam.
Sau ngày 30-04-1975, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tham gia thực hiện
nhiệm vụ quân quản, tổ chức sắp xếp lại lực lượng và tiến hành thành lập QK7 theo
chỉ đạo của Trung ương. Đồng thời, cùng nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh trên
tất cả các lĩnh vực, góp phần xây dựng và bảo vệ cuộc sống mới.
Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam đã hoàn thành, lực lượng vũ trang Quân
Khu 7 còn làm nhiệm vụ quốc tế từ năm 1977 đến 1989. Đó là bảo vệ biên giới Tây
Nam và thực hiện nhiệm vụ giữ vững an ninh trên địa bàn. Đồng thời, phối hợp với
các lực lượng cách mạng Campuchia tiến hành cuộc phản công truy kích bọn Pôn-pốt,
cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng vào cuối năm 1978, đầu năm 1979.
Hay thực hiện tốt nhiệm vụ liên minh chiến đấu, giúp nhân dân Campuchia hồi sinh,
từng bước củng cố, xây dựng lực lượng đủ khả năng tự đảm đương nhiệm vụ của
mình,... và rất nhiều nhiệm vụ bảo vệ hòa bình cho nhân dân nước bạn và nhân dân địa
phương khác.
Phát huy truyền thống “Trung thành vô hạn, chủ động sáng tạo, tự lực tự
cường, đoàn kết quyết thắng”, lực lượng vũ trang Quân Khu 7 đã hoàn thành toàn diện
các nhiệm vụ được giao, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ biên