GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG – Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC DỰNG NƯỚC GIỮ
NƯỚC
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba
Tất cả dân tộc Việt Nam từ Bắc chí Nam, ở trong nước cũng như ở nước ngoài đều
hướng về một ông Tổ, một nguồn gốc sinh thành. Đó là các vua Hùng. Hàng năm vào
ngày 10 tháng 3 âm lịch, lễ Giỗ Tổ được tổ chức tại Đền Hùng để tưởng nhớ Vua Hùng
– vị tổ chung của cả dân tộc.
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tổ tiên ta chẳng những đã để lại cho
chúng ta một dải non sông tươi đẹp mà còn cả một quá khứ lịch sử vẻ vang, với truyền
thống anh hùng và bao tấm gương sáng chói. Những truyền thống tốt đẹp ấy đã được
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trân trọng gìn giữ, phát huy và lấy đó làm một trong
những nguồn sức mạnh cổ vũ nhân dân ta hăng hái tiến bước trên con đường đấu tranh
cách mạng. Giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc ta là việc Đảng ta rất coi trọng, đồng
thời cũng là yêu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của các tầng lớp nhân dân
ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quá khứ lịch sử anh hùng từ ngàn xưa đã sống dậy mãnh
liệt và đẹp đẽ hơn bao giờ hết trong sự nghiệp cách mạng nói chung cũng như trong hai
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cứu nước của nhân dân ta.
Như trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đã viết:
“Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Cõi bờ sông núi đã riêng, Phong tục Bắc - Nam cũng khác.
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau…
Thế đó, tổ tiên ta bắt tay dựng nước là phải lo ngay đến việc giữ nước. Điều đó đã
chứng minh dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, bất khuất. Trải qua hàng trăm ngàn năm
chinh phục thiên nhiên rất khắc nghiệt, mưa, lũ, bão, hạn hán…những con người trên
đất Việt cổ xưa đã rèn cho mình những đức tính vô cùng qúy báu: cần cù và sáng tạo
trong lao động, khôn ngoan và dũng cảm trong đoàn kết đấu tranh chống thiên tai. Nếu
trong việc chinh phục thiên nhiên, những con người xưa kia sống trên mảnh đất này, đã
chung lưng đấu cật, khắc phục mọi hiểm nghèo, tạo nên những điều kiện thuận lợi để
làm ăn, sinh sống, thì trong đấu tranh chống ngoại xâm, những con người ấy cũng không
chịu bó tay khuất phục trước bất cứ thế lực nào. Ngay từ buổi đầu dựng nước, tổ tiên ta
một mặt vẫn phải gian khổ đấu tranh với rừng rậm, đầm lầy, thú dữ, dông bão, lụt lội…
để làm ăn sinh sống, mặt khác lại phải đương đầu với nhiều thứ “giặc” thường xuyên đe
dọa: giặc “Man”, giặc “Mũi đỏ”, giặc “Ân”,…Những thứ giặc trong truyền thuyết đó có
thể là những bộ lạc, những liên minh bộ lạc hay những quốc gia lân cận. Cuộc chiến đấu
chống giặc ngoài buộc tổ tiên ta phải tập hợp lại trong những cộng đồng chặt chẽ là làng
và nước (công xã và quốc gia) để cùng nhau bảo vệ quê hương, giữ lấy giống nòi.
Như vậy, giữ làng giữ nước sớm trở thành một yêu cầu, một truyền thống lâu đời
gắn bó tình yêu nơi chôn nhau cắt rốn với tình yêu đất nước rộng lớn. Lòng yêu nước ý
thức quốc gia dân tộc sớm nảy nở và ngày một rõ nét, lớn mạnh lên trong cuộc chiến