Tran Thi Hoa - Nu tu chinh tri sang ngoi chat ngoc

Tran Thi Hoa - Nu tu chinh tri sang ngoi chat ngoc

1 Page 1

▲back to top
Trần Thị Hòa – Nữ tù chính trị sáng ngời chất ngọc
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to
lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Đặc biệt, trong
kháng chiến chống Mỹ, sự xuất hiện của “Đội quân tóc dài” như một huyền thoại độc
nhất vô nhị, có thể đương đầu với các loại vũ khí tối tân, làm câm họng những khẩu
đại bác đang nhả đạn, chặn đứng cả đội quân hùng dũng… và đã trở thành một điểm
sáng trong nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam. Không chỉ thế, với nhiều hình
thức đấu tranh kiên cường, bất khuất, anh dũng của những “Nữ tù chính trị” trong cảnh
gông cùm, xiềng xích cũng góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của quân và dân ta,
dành lại độc lập, hòa bình cho dân tộc Việt Nam anh hùng. Trong những bông hoa tươi
thắm ấy, có một bông hoa rực rỡ mang tên Trần Thị Hòa – Nữ tù chính trị kiên cường,
bất khuất của quê hương Đồng Nai xưa.
Cô Trần Thị Hòa sinh ngày 7
tháng 10 năm 1947 tại xã Phước Tĩnh,
huyện Long Điền, tỉnh Phước Tuy (nay
thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Sinh ra
trong một gia đình nông dân nghèo, ở
vùng quê giàu truyền thống cách mạng,
ngay từ khi còn thơ bé, cô sớm giác ngộ
lý tưởng cách mạng và mong muốn
được đi thoát ly. Cô sung sướng vì được
mấy anh tin tưởng, giao nhiệm vụ dò la
tình hình địch hay mua giúp pin, đèn,
thuốc tây, dây điện cho tổ chức.
Tháng 8/1961, khi chưa đầy 15
tuổi, cô Ba Hòa tham gia Hội phụ nữ
giải phóng và làm tổ trưởng phụ nữ. Cô
vận động, thuyết phục chị em đóng tiền
nguyệt liễm, làm giao liên đưa thư từ
cho mấy chú du kích. Cuối năm 1963,
cô được tổ chức cách mạng địa phương
chấp nhận cho cô được đi thoát ly. Năm
1964, cô Ba Hòa móc nối với cơ sở ở
Bình Châu để nắm dân, làm công tác dân vận.
Ngày 02/7/1965, khi cô đang đi vận động một số thanh niên tham gia cách
mạng thì bị tụi lính chặn lại tra hỏi giấy tờ. Biết không xong, cô ngược tay ra sau, thò
vô túi xé nát giấy tờ tài liệu mang theo, tiện thể rút chốt trái lựu đạn M26 định bụng
“cưa đôi” với tụi lính. Ngay lập tức, một tên lính táng cô hai bạt tai làm cô hoa mắt,
rồi chúng trói cô lại. Tụi lính lôi cô về nhà hội đồng xã, trên đường đi gặp một vài
thanh niên đã đồng ý đi thoát ly cùng cô, ai nấy đều lo sợ. Biết mọi người đang lo lắng
nên cô thầm nhủ: “chết thì chết, nhất định không khai, không làm ảnh hưởng đến niềm
tin của đồng bào với cách mạng!”
Về tới tiểu khu, cô bị chúng tra tấn rất dã man, nào là dùng kềm rút móng tay,
dùng đục nhổ răng, dùng dùi cui, ma trắc, búa, roi điện, máy quay điện để tra tấn lên
cơ thể cô. Chưa hết, chúng còn bắt cô uống nước xà bông kèm ớt bột, trói tay cô ra sau
và treo ngược lên trần nhà hay bỏ cô vào thùng phi nước, đậy nắp kín rồi dùng chày
đập bên ngoài thùng,... Tra tấn nhiều tháng liền, nhưng cô Hòa vẫn kiên trung, bất

2 Page 2

▲back to top
khuất không khai lấy nửa lời. Bọn địch khiếp sợ trước tinh thần kiên cường, bất khuất
của cô. Đòn ròn không lại, kẻ thù lấy mật ngọt hòng mua chuộc cô, nhưng cô thầm
nghĩ: Một đời cô đi theo Cách mạng, chức tước, tiền vàng có xá gì.
Cuối năm 1966, chúng đưa cô về Trại giam Thủ Đức, ở đó cô chống chào cờ,
khi chúng hát chào cờ là cô ngồi xuống quay mặt đi, có lần cô bị chúng đánh đến gãy
tay, người mềm oặt như sợi bún, cả thân thể không cử động được nữa.
Giữa năm 1967, chúng đưa cô ra tòa án Sài Gòn, xử cô với hai tội danh: Phản
nghịch và cố sát. Chúng kêu án là 7 năm khổ sai và 5 năm lưu đày biệt xứ. Luật sư
bào chữa do chúng chỉ định đã xin với tòa khoan hồng giảm án, cho rằng cô chỉ là con
nít bị dụ dỗ. Cô đanh thép phản bác lại: “Tôi đánh Mỹ, vì Mỹ cướp nước tôi, không có
ai dụ dỗ tôi hết. Tôi không cần các ông giảm án…”.
Đầu năm 1968, cô bị đưa xuống trại biệt giam D trại giam Thủ Đức. Đầu năm
1969, cô cũng những nữ tù nhân ở Trại D, đấu tranh lớn đòi quyền thăm nuôi, mở cửa
cho xách nước, đục thêm lỗ thông hơi trong phòng. Đấu tranh bằng hình thức tuyệt
thực không hiệu quả, cô Ba Hòa xin là người đầu tiên mổ bụng thị uy kẻ thù. Bọn địch
thấy cô bày dụng cụ chuẩn bị mổ bụng, chúng hốt hoảng và đồng ý tất các các yêu
sách của tù nhân đưa ra.
Ngày 21/8/1969, Cô Ba Hòa và hàng ngàn nữ tù nhân tại trại giam Thủ Đức nổi
dậy, chiếm trại giam, làm chủ tình hình suốt 3 ngày (từ ngày 21 – 23/8/1969). Sau đó,
chúng kêu mấy tiểu đoàn cảnh sát dã chiến đàn áp dã man cuộc nỗi dậy. Chúng bắt cô
Hòa và các chị em về nhà tù Chí Hòa. Chưa đầy 2 tuần, sau khi cô bị chuyển tới lao
Chí Hòa, Bác Hồ muôn vàn kính yêu đã ra đi mãi mãi. Với cô và các chị em trong tù,
Bác Hồ là niềm tin, hy vọng và là niềm động viên tinh thần để các chị em có thể chống
lại cảnh tù đầy, xiềng xích và những trận đòn roi thấu xương. Nghe tin Bác mất, cô
cùng các chị em đau sót khôn cùng. Để thể hiện niềm tôn kính vô tận, các chị em đã để
tang và tổ chức truy điệu Bác Hồ ngay tại nhà lao trong thời gian 7 ngày. Dù trong
cảnh lao tù xiềng xích, lá cờ đỏ hiện ra giữa khán phòng, trước cửa, băng tang trắng
phủ rèm, trên bàn hương án trang nghiêm, hiên ngang “mọc giữa trái tim kẻ thù”.
Ngày 29/11/1969 bọn quản
ngục Chí Hòa đàn áp và lưu đày Cô
Ba Hòa cùng 342 nữ tù đi Côn
Đảo. Qua đấu tranh quyết liệt của
các chị em, ngày 30/10/1970 chúng
đưa cô và hơn 200 chị trở về nhà
lao Tân Hiệp. Ở đây, Cô Ba kết
hợp cùng chị em tại thực hiện tuyệt
thực chống chào cờ, chống ly khai,
chống luật lệ của địch. Trước sự
đấu tranh mạnh mẽ của nữ tù nhân,
địch đã đàn áp rất dã man. Sau này,
chúng còn đầy cô Ba Hòa ra trại
giam Côn Đảo thêm lần nữa.
Gần 10 năm tù đày, biệt
giam, trải qua nhiều trại giam, nếm
đủ mùi tra tấn dã man của kẻ thù xâm lược, mãi đến tháng 3 năm 1974, khi hiệp định
Pari được ký kết, hai bên trao trả tù binh, cùng với 5.081 tù nhân khác, cô Ba Hòa mới
thoát khỏi chốn “địa ngục trần gian”. Sau khi được trả tự do, hòa bình lặp lại, cô Ba
Hòa tham gia công tác tại Trường Đào tạo cán bộ ở Bà Rịa. Sau đó, cô làm thư ký cho

3 Page 3

▲back to top
Cô Nguyễn Thị Bạch Tuyết – Chủ tịch Hội Phụ nữ tỉnh Đồng Nai lúc đó. Trải qua
nhiều vị trí công tác, cô về nghỉ chế độ khi đang là Chủ tịch Hội phụ nữ tỉnh Đồng Nai
năm 2002.
Dù đã nghỉ chế độ, song với bản tính năng nổ cô tham gia nhiều hoạt động như:
Thường vụ Hội Khuyến học, Thường vụ Hội hỗ trợ gia đình liệt sĩ tỉnh Đồng Nai;
nhóm trưởng Câu lạc bộ vì Hoàng Sa, Trường Sa thân yêu; Chủ tịch Hội Chiến sĩ cách
mạng bị địch bắt tù đầy tỉnh Đồng Nai; Trưởng ban đại diện câu lạc bộ “Tiếp nối
truyền thống”,…v.v. Không chỉ vậy, cô luôn tham gia các hoạt động tri ân đến người
có công với cách mạng, chăm lo đến phần mộ liệt sĩ, thăm hỏi và tặng quà đến những
đồng đội của cô và nhiều hoạt động thiện nguyện khác. Hiện cô đang sống tại phường
Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Với những công hiến lớn lao ấy, Cô Ba Hòa được Đảng và Nhà nước trao
tặng: Huân chương kháng chiến hạng nhì, huân chương lao động hàng nhì, huân
chương giải phóng hạng nhì, huân chương sao vàng, huy hiệu 50 năm tuổi
Đảng,… và rất nhiều huân huy chương, bằng khen của trung ương và địa
phương.
Chiến tranh đã lùi xa, đất nước đã hòa bình - độc lập, đời sống nhân dân được
ấm no - hạnh phúc, song tấm gương đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất và hết
lòng trong công việc của cô Trần Thị Hòa, sẽ mãi là những bài học lịch sử chân thực,
sâu sắc để các thế hệ trẻ luôn nhắc nhớ. Từ đó, tiếp bước truyền thống hào hùng của
cha anh, ra sức học tập, tu dưỡng đạo đức, dựng xây quê hương, đất nước ngày càng
giàu đẹp và văn minh hơn.
Đào Thanh