“uống nước nhớ nguồn”, ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ký Sắc lệnh của Chủ Tịch nước số 22/SL - CTN ngày 18 tháng 2 năm 1946
cho công chức nghỉ ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm để tham gia tổ chức các hoạt
động Giỗ Tổ Hùng Vương - hướng về cội nguồn dân tộc. Trong ngày Giỗ Tổ năm
Bính Tuất (1946) - năm đầu tiên của Chính phủ mới được thành lập, cụ Huỳnh Thúc
Kháng - Quyền Chủ tịch nước đã dâng 1 tấm bản đồ Tổ quốc Việt Nam và 1 thanh
gươm quý nhằm cáo với Tổ tiên về đất nước bị xâm lăng và cầu mong Tổ tiên phù hộ
cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình cùng nhau đoàn kết, đánh tan giặc xâm lược,
bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
Kháng chiến thắng lợi với thiên sử vàng Điện Biên Phủ (7-5-1954), ngày 19-9-
1954, tại Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã căn dặn cán bộ, chiến sĩ Đại
đoàn quân tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô: “Các vua Hùng đã có công dựng
nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Người còn nhắc: “Phải chú ý bảo
vệ, trồng thêm hoa, thêm cây cối để Đền Hùng ngày càng trang nghiêm và đẹp đẽ,
thành công viên lịch sử cho con cháu sau này đến tham quan”.
Lời căn dặn cũng là lời hứa quyết tâm ấy của vị đứng đầu đất nước, dân tộc đã
được thực hiện vào mùa xuân 1975: Sau 30 năm gian khổ hy sinh, nhân dân ta đã quét
sạch bọn xâm lược ra khỏi bờ cõi, giang sơn thống nhất, quy về một mối vẹn toàn. Có
lẽ không một dân tộc nào trên thế giới có chung một gốc gác tổ tiên - một ngày giỗ Tổ
như dân tộc ta. Từ huyền thoại mẹ Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, nửa theo cha xuống biển,
nửa theo mẹ lên rừng đã khơi dậy ý thức về dân tộc, nghĩa đồng bào và gắn kết chúng
ta thành một khối đại đoàn kết. Hai chữ đồng bào là khởi nguồn của yêu thương, đùm
bọc, của sức mạnh Việt Nam.
Trải qua mấy nghìn năm, trước bao nhiêu những biến động thăng trầm, trong
tâm thức của cả dân tộc. Đền Hùng vẫn là nơi của bốn phương tụ hội, nơi con cháu
phụng thờ công đức Tổ tiên. Không chỉ người Việt chúng ta tự hào về Đền Hùng, mà
tìm vào những dòng lưu bút của các đoàn đại biểu quốc tế và bạn bè khắp năm châu
bốn biển từng đến thăm viếng Đền Hùng.
Chính vì vậy mà lễ hội truyền thống bao giờ cũng có sức thu hút, mời gọi kỳ lạ
đối với nhiều người và mọi lứa tuổi khác nhau:
Bà ẳm cháu, mẹ bồng con
Không đi hội Trám cũng buồn cả năm
Người đến với lễ hội là đến chốn linh thiêng cao cả, với tâm thức chân thành và
thanh thản, với khát vọng, ước mong tốt lành và cả niềm tin rằng trong không khí của
“thời điểm mạnh” náo nức âm thanh trầm hùng của tiếng trống và khói hương trầm,
thần thánh, tổ tiên cũng có mặt trong trong ngày vui lớn cùng con cháu và âm phù hộ
cho người dương thế trong những ngày tới.
Cái không gian trầm lặng và tôn nghiêm của ngôi đình mái cong, ngôi chùa rêu
phong, hay ngôi đến cổ kính dưới những tàn cổ thụ, bỗng sáng lên, tưng bừng, rộn rịp
bởi những sắc màu của cờ, hoa, quạt, kiệu, tàn, lọng, và đồ khí thứ khác, bởi những âm
thanh của các loạt nhạc khí; bởi những nhịp điệu uyển chuyển mềm mại của đội múa
rồng, múa lân….Nhưng cái yếu tố làm nên sự sống động của lễ hội chính là sự hiện
diện của hàng ngàn, hàng vạn con cháu từ các nơi cùng về hội tụ. Cái không gian lộng
lẫy và uy nghi ở diễn trường đã tạo nên chất hoành tráng và thiêng liêng của lễ hội, có
sức khơi dậy cái thiện và cái mỹ trong tâm thức của mỗi con người, thôi thúc họ vươn
tới ý tưởng sống cao đẹp, giàu ý nghĩa hơn.
Hội đền vui lắm ai ơi,
Kẻ thời giỗ Tổ, người thời đu tiên.