mới lối sống của nhân dân, Đông Kinh Nghĩa Thục ra sức đả phá các hủ tục, tệ cờ bạc,
nghiện hút, mê tín di đoan, thói sống lạc hậu, đề xướng lối sống đạo đức, khoa học, cắc
tóc ngắn, mặc quần âu… Đông Kinh Nghĩa Thục không chỉ dạy dân học chữ mà còn
dạy về chính trị, kinh tế, quyền công dân…, là những vấn đề xưa nay chưa người Việt
Nam nào được học. Thời gian làm việc ở Đông Kinh Nghĩa Thục là thời gian làm việc
tích cực nhất, tươi đẹp nhất của Nguyễn Hữu Cầu. Ngày ngày cụ lên trường làm việc,
tối khuya về nhà; nhà ở giữa cánh đồng bùn lầy, đường bờ ruộng đi lại rất khó; khi về
đều không gọi cổng, xé rào mà vào. Sáng sớm cụ tập đánh giáo, đâm thủng cả mấy tấm
phên nứa làm cửa nhà ngang. Đôi khi cụ đưa các bạn về nhà mình, cũng về ban đêm và
khuya, các cụ ngồi ngoài sân bàn công việc cứu nước đến sáng mới tan. Tuy bận việc
nước nhưng cũng không quên việc nhà giúp vợ con trong những ngày nghỉ và cụ thường
mang tài liệu về nhà để soạn sách và dạy con, nhất là về lòng yêu nước.
Cuối năm 1907, do hoảng sợ trước tác động to lớn của Đông Kinh Nghĩa Thục
trong việc khơi dậy tinh thần yêu nước và cứu nước của đông đảo dân chúng, thực dân
Pháp đã ra lệnh đóng cửa trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguyễn Hữu Cầu về quê dạy
học. Năm sau lên Hà Nội giúp cụ Nghiêm Xuân Quảng dạy chữ Hán khoảng một năm
ở trường Quảng Hợp Ích; đồng thời cùng một số đồng chí bí mật tìm kiếm các thanh
niên ưu tú và yêu nước, giúp họ kinh phí sang Trung Quốc du học để trở thành các chiến
sĩ chống Pháp sau này. Chính vì vậy mà mạng lưới mật thám của thực dân Pháp thường
xuyên bám sát và theo dõi cụ. Đến năm 1915, cụ bị bắt và khép án 5 năm tù, 5 năm cầm
cố, cùng cụ Tú Phật Tích (Nguyễn Cảnh Lâm) và cụ Quảng Hòa (Trịnh Đình Lưu) cùng
một số nhân sĩ khác. Năm 1917, thực dân Pháp bắt đem ba cụ đày Côn Đảo.
Ở Côn Đảo, Nguyễn Hữu Cầu gặp các bạn Đông Kinh Nghĩa Thục và các nhà
chí sĩ Trung bộ: cụ Đốc Đặng Nguyên Cẩn, cụ nghè Huỳnh Thúc Kháng, cụ nghè Ngô
Đức Kế, cụ Xứ Lê Đại. Ông cùng các bạn chịu sự áp bức hành hạ của chế độ thực dân
Pháp trong ba năm. Tháng 9/1920, ông mãn hạn tù, được trở lại quê hương nhưng bị
thúc quản, không được ra Hà Nội. Sau đó, cụ Nguyễn Hữu Cầu mở một hiệu thuốc bắc
lấy tên Lợi Nhân Đường ở Ngã Tư Sở, và nổi tiếng là người “mát tay hay thuốc”, rất tốt
bụng, nhất là đối với người nghèo. Cụ giữ nếp sống bình dị, khiêm tốn suốt cả cuộc đời.
Trong khoảng 20 năm làm thuốc ở Ngã Tư Sở, cụ vừa bốc thuốc vừa dạy học trò Đông
y. Tuy tuổi già sức yếu, nhưng cụ vẫn luôn nghĩ và làm những việc ích nước lợi dân.
Năm 1934, nhân dịp Hội Khai Trí Tiến Đức mở cuộc thi viết về đề tài “Tân nữ huấn”,
cụ đạt giải ba. Nội dung bài ca Tân nữ huấn của cụ nhằm trình bày quan điểm tiến bộ
của mình đối với “giáo dục phụ nữ ở thời đại tân tiến” có những quyền lợi và nghĩa vụ
đối với gia đình, xã hội, đất nước…như thế nào.
Cuối năm 1940, cụ bị chứng tê liệt một bên chân, phải từ giã hiệu thuốc về dưỡng
bệnh ở nhà. Cụ tự mình điều dưỡng và gắng tập thể dục, cuối cùng cũng tạm đi lại trong
nhà. Tuy cuộc sống yên ả như vậy nhưng tình yêu đất nước chưa bao giờ phai nhạt trong
lòng chí sĩ. Cụ mong ngóng đến ngày non sông thoát khỏi ách cai trị của giặc Pháp.
Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Hữu Cầu vô cùng phấn khởi khi thấy vợ con
đi mít tinh, con cháu vào dân quân. Sau đó cụ bảo con làm cỗ cúng và khấn báo với tổ