Kỷ niệm 80 năm Ngày Bác Hồ về nước
(28/1/1941 - 28/1/2021)
Đối với dân tộc Việt Nam, mùa xuân năm 1941 thực sự là một mùa xuân kỳ
diệu, bởi đó là mùa xuân lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) trở về Tổ
quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Người trở về trực tiếp lãnh đạo cách
mạng Việt Nam đã mang theo sắc xuân bất diệt cho đất nước Việt Nam.
Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước mất, nhà tan, các thế hệ người dân Việt
Nam lúc bấy giờ đều mong muốn đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành lại độc
lập, tự do cho dân tộc, người thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ nung nấu một ý chí với
quyết tâm cháy bỏng đó là: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là
tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.
Phải cứu nước bằng con đường nào? Đó là câu hỏi ray rứt trong lòng người
thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Giữa xã hội phong kiến thuộc địa, coi khinh
lao động chân tay, người thanh niên ấy đã bỏ nghề dạy học, từ Phan Thiết vào Sài
Gòn, tự nguyện đi vào nghề thợ máy để được tiếp xúc với kỹ thuật công nghệ và được
sống chan hòa đời thợ với giai cấp công nhân? Cuộc sống lao động thợ thuyền góp
phần đưa Bác Hồ đi tìm chân lý cách mạng.
Trưa ngày 2 tháng 6 năm 1911. Bác Hồ với tên mới là Anh Ba đã ra Bến Nhà
Rồng lên thẳng tàu “Đô đốc La Tútsơ Tơ-rê-vin” để xin việc làm. Bác được chấp nhận
với chân phụ bếp, hàng ngày phải khiêng chảo, rửa nồi, cào lò, xúc than…Sự nghiệp vĩ
đại của Bác Hồ đã bắt đầu tuổi thanh xuân hăm hở lăn mình vào cuộc sống của quần
chúng vô sản. Và chính nhờ vậy mà Bác đã tạo ra trong lòng mình ý thức giác ngộ giai
cấp. Sáng ngày 5 tháng 6 năm 1911, tàu “Đô đốc La Tútsơ Tơ-rê-vin” nhổ neo. Giữa
đêm đen nô lệ, Bác ra đi một mình không một ai đưa tiễn, chỉ với hai bàn tay trắng và
một chí lớn: Tìm đường cứu nước.
Bác đã đi rất nhiều nơi, qua Pháp, Anh, Đức, Ý, Mỹ; qua các thuộc địa của
Pháp ở châu Phi, Bác đã sống và tiếp xúc với nhiều lớp người từ những người thợ ở
Pa-ri, Luân Đôn, Thượng Hải đến những người nô lệ châu Phi, người dân cùng khổ ở
Ấn Độ, Trung Quốc, người phu đào kênh ở Pa-na-ma. Là một người dân mất nước, lại
là một công nhân cùng khổ, Bác dễ dàng thông cảm sâu sắc với nhân dân các nước,
yêu đồng bào, yêu giai cấp càng sục sôi trong lòng Bác. Bác đã gặp các nhà hoạt động
cách mạng, các chính khách, các nhà khoa học có tên tuổi ở các nước, Bác đã đến các
Thư viện quốc gia với một tinh thần khiêm tốn học hỏi, cố tìm ra ánh sáng mới để cứu
dân, cứu nước.
Tiếng súng của Cách mạng tháng Mười Nga thành công đã có ảnh hưởng quyết
định đến đời hoạt động của người. Người đã đến với chủ nghĩa Lênin khác nào người
đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn. Lúc đó, Bác lấy tên là
Nguyễn Ái Quốc. Bác đã viết trong bài “Con đường dẫn đến chủ nghĩa Lê-nin” như
sau: “Luận cương của Lênin” làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng
biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên được. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói
to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ!
Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”
Từ đó, Bác khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Công lao đầu tiên lớn nhất của Bác Hồ
là đã đáp ứng được nhu cầu bức thiết của lịch sử. Người đã tìm ra con đường cứu nước
đúng đắn nhất. Người đã vượt qua sự hạn chế của chủ nghĩa yêu nước của các sĩ phu
đương thời, sớm đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và đi vào con đường cách mạng vô sản.