Về chính trị, ông cải tổ hàng ngũ võ quan, thay thế dần các võ quan cao cấp do
quý tộc tôn thất nhà Trần nắm giữ bằng những người không phải họ Trần nhưng có tài
năng và thân cận với mình. Ông đổi tên một số đơn vị hành chính cấp trấn và quy định
cụ thể, rõ ràng cách làm việc của bộ máy chính quyền các cấp. Năm 1397, Hồ Quý Ly
đổi trấn Thanh Hóa làm trấn Thanh Đô, Trấn Quốc Oai làm trấn Quảng Oai, Lạng Sơn
phủ thành Lạng Sơn trấn … và quy định: lộ coi phủ, phủ coi châu, châu coi huyện. Các
việc hộ tịch, tiền thóc, kiện tụng đều làm chung thành sổ sách của một lộ, đến cuối năm
báo lên sảnh để làm bằng cứ mà khảo xét. Ông đặt lệ cử các quan ở triều đình về các lộ
thăm hỏi đời sống nhân dân và tìm hiểu tình hình làm việc của quan lại để thăng hay
giáng chức. Trách nhiệm các cấp liên đới nhau từ trên xuống dưới, việc quản lý của triều
đình nhờ đó mà dễ dàng hơn.
Về xã hội, ông ban hành chính sách hạn chế nô tì được nuôi của các vương triều,
quý tộc, quan lại. Năm 1401, nhà Hồ lập phép hạn chế gia nô: chiếu theo phẩm cấp, các
quan lại quý tộc chỉ được nuôi một số gia nô nhất định. Số thừa ra sung công. Mỗi gia
nô thừa ra được nhà nước đền bù 5 quan tiền. Mục tiêu cũng đánh vào cả thế và lực của
phong kiến quý tộc nhưng cũng là cải cách nửa vời. Bởi vì về bản chất, chính sách hạn
nô chưa nhằm vào mục tiêu giải phóng nông nô, nô tì, mà được thực hiện là do nhu cầu
cần thiết có tính chất thời đại, mới chỉ là sự thay đổi trên danh nghĩa, là sự chuyển đổi
từ các nô tì riêng của cá nhân (tư nô) thành các nô tì công của nhà nước (quan nô). Bên
cạnh chính sách hạn nô, ông còn thực hiện một số chính sách xã hội khác mang tính chất
cải cách. Cụ thể như: những năm có nạn đói, nhà Hồ lệnh cho các quan đi khám xét, bắt
nhà giàu thừa thóc phải bán cho dân đói và tổ chức nơi chữa bệnh cho dân.
Về văn hóa, giáo dục, ông cũng đã có nhiều cải cách lớn. Triều Hồ quy định việc
mở trường học, đặt thể lệ thi cử và tổ chức kỳ thi. Tháng 8/1400, Hồ Quý Ly đã tổ chức
kỳ thi Thái học sinh ở thành An Tôn (thành nhà Hồ), đã có 20 người thi đỗ. Trong đó
có những danh nho như Nguyễn Trãi, Lưu Thúc Kiệm, Lý Tử Vấn, Vũ Mộng Nguyên,
Hoàng Hiếu, Nguyễn Mộng Tuân. Ông đã thi hành một loạt cách tân: định lại phép thi
cử, bỏ thi ám tả cổ văn; đặt đề thi kinh nghĩa; thi thơ đường luật; thi chiếu chế biểu và
văn sách, kinh nghĩa. Đặc biệt ông đã dùng chữ Nôm dịch các sách kinh, truyện để dạy
cho vua; làm sách “Minh Đạo” và bàn sách luận ngữ; nêu ra bốn điều nghi vấn về sách
của Khổng Tử.
Về quân sự, ông tăng cường củng cố quân sự, quốc phòng nhằm bảo vệ đất nước
từ rất sớm. Ông cho thành lập 4 xưởng chế tạo vũ khí, thăm dò, nghiên cứu các vùng
biển hiểm yếu, củng cố lực lượng quân sự. Ông ra lệnh mở xưởng rèn đúc vũ khí, số
tiền đồng thu được khi phát hành tiền giấy dùng để đúc vũ khí phục vụ cho nền an ninh
quốc phòng. Một đóng góp quan trọng của thời nhà Hồ là chế tạo ra một loại súng mới
là súng thần cơ và làm ra một loại thuyền chiến mới gọi là lâu thuyền. Để tăng quân số,
ông tiến hành cho làm lại sổ đinh, các nhân khẩu từ 2 tuổi trở lên đều ghi tên vào sổ bộ
để nhà nước quản lý và nắm được thực số, cấm ẩn lậu nhân đinh. Nhờ tiến hành biện
pháp này, khi sổ bộ làm xong thì số người từ 15 đến 60 tuổi tăng hơn trước nhiều lần.
vì vậy nhà nước tuyển thêm được rất nhiều binh lính. Trước họa xâm lăng của địch, Hồ
Quý Ly đã chủ trương xây dựng hệ thống phòng bị kiên cố. Xây dựng thành Tây Đô
(thành nhà Hồ), thành Đa Bang (Ba Vì - Hà Nội) và cả một hệ thống công trình phòng
thủ có quy mô lớn, dài gần 400km, kéo từ núi Tản Viên men theo sông Đà, sông Hồng,
sông Luộc, đến cửa sông Thái Bình. Có thể nói, đây là thời kỳ xây dựng được một công
trình phòng ngự có quy mô lớn nhất. Điều này cho thấy tiềm năng nhân lực, vật lực được
huy động cho công cuộc chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta rất lớn.