Kỷ niệm 225 năm Ngày sinh Cụ Phan Thanh Giản (12/10/1796 - 12/10/2021)
Phan Thanh Giản - vị quan thanh liêm, tài đức
Nổi tiếng là vị quan thanh liêm, tài đức, cụ Phan Thanh Giản đã có nhiều đóng
góp to lớn đối với lịch sử dân tộc Việt Nam trên các lĩnh vực văn hóa, chính trị và ngoại
giao.
Về tiểu sử, Phan Thanh Giản tự là Đạm Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt
hiệu là Mai Xuyên, sinh ngày 12/10/1796 tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ
Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Sinh ra trong một gia đình nghèo, mẹ mất sớm, việc học tập của cụ gặp nhiều khó
khăn. Nhưng với vốn thông minh, hiếu học, năm 30 tuổi Phan Thanh Giản thi Hương,
đậu cử nhân tại trường thi Gia Định (năm 1825). Sau đó 1 năm, tại kỳ thi Hội ở kinh đô
Huế, cụ đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ và cũng là vị tiến sĩ đầu tiên của Nam kỳ. Trong
cuộc đời của mình, cụ đã làm quan trải qua 3 triều: Minh Mạng, Triệu Trị và Tự Đức.
Dưới triều Minh Mạng, cụ lần lượt giữ các chức Hàn lâm viện biên tu, rồi cải bổ
Lang trung bộ Hình (1827), Tham hiệp tỉnh Quảng Bình (1828), quyền nhiếp Tham hiệp
tỉnh Nghệ An (1829), Lễ bộ tả thị lang và tham gia Nội các (1830), Hiệp trấn tỉnh Quảng
Nam (1831), Hàn lâm kiểm thảo Nội các hành tẩu, Hộ bộ viên ngoại lang (1832), Đại
lý tự khang sung Cơ mật viện đại thần (1834), Kinh lượt trấn Tây (1835), Tuần vũ Quảng
Nam (1836), Thống chánh sứ và Phó sứ rồi Hộ thị lang (1839).
Với tài đức của mình, Phan Thanh Giản được triều đình trọng dụng, nhưng cuộc
đời làm quan của cụ cũng không ít long đong. Dưới triều Minh Mạng, cụ đã 3 lần bị
giáng chức, có lần phải làm “lục phẩm thuộc viên” giữ việc quét dọn, sắp đặt bàn ghế ở
công đường (1836)… Khi Minh Mạng mất, cụ Phan được Thiệu Trị tiếp tục trọng dụng,
làm Phó chủ thảo Trường thi Thừa Thiên (1840), Phó đô ngự sử Đô sát viện (1847).
Đến triều Tự Đức, cụ được giao phụ trách giảng dạy và điều khiển Trường Kinh
Diên, rồi làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục
(1848), được bổ chức Thượng thư bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần (1849). Năm 1850,
ông được cử vào trấn nhậm miền Tây Nam kỳ cùng với Nguyễn Tri Phương. Sau đó, lại
được phong làm Phó kinh lược sứ Nam kỳ. Đầu năm 1862, sau khi đồn Kỳ Hòa thất thủ,
các tỉnh Biên Hòa, Định Tường bị chiếm, cụ Phan được Tự Đức cử làm Chánh sứ toàn
quyền đại thần cùng với Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết với yêu cầu tùy nghi
chuộc lại các tỉnh đã mất. Nhưng đến ngày 5/6/1862 (năm Nhâm Tuất), cụ đã ký với
Bonard (Thiếu tướng hải quân Pháp) và Guttierez (Đại tá, chỉ huy trưởng quân viễn
chinh Tây Ban Nha ở Nam kỳ) một hòa ước gồm 12 điều khoản, trong đó có việc cắt 3
tỉnh miền Đông cho Pháp và bồi thường 4 triệu đô la tương đương với 2.880.000 lạng
bạc, trả trong 10 năm… Việc làm này của cụ đã bị Tự Đức quở trách. Dù vậy, năm 1836,
cụ lại được Tự Đức cử làm Chánh sứ cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy
Khắc Đản sang Pháp đàm phán xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông nhưng không thành.
Tháng 1/1866, trước khi có ý đồ lăm le chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây của Pháp, Tự
Đức lại cử cụ Phan vào làm Kinh lược sứ trấn giữ Vĩnh Long. Ngày 20/6/1867, Pháp
chiếm tỉnh thành Vĩnh Long (lần thứ hai). Phan Thanh Giản đã tuyệt thực rồi uống thuốc
độc tự tử vào ngày 4/8/1867.
Triều đình Tự Đức ghép ông vào tội “trảm quyết” nhưng vì đã chết nên tạm miễn,
“lột hết chức tước và đục tên trên bia khắc tên các tiến sĩ”. 19 năm sau (1886), đến đời
vua Đồng Khánh cụ mới được khôi phục hàm cũ Hiệp biện đại học sĩ…
Các giai thoại về cuộc đời, sự nghiệp của cụ thì luôn được người đời nhắc đến.
Từ lúc cụ làm Kinh lược phó sứ ở các tỉnh Tây Nam bộ (1848) hay khi về Kinh làm Lễ
1