Hiến pháp năm 1946 – những giá trị còn mãi
Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong phiên họp đầu tiên
ngày 03/9/1945, Bác Hồ đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ. Một trong 6 nhiệm
vụ quan trọng đó là xây dựng Hiến pháp. Theo đó, tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội
khóa I vào ngày 02/3/1946, Quốc hội đã bầu ra Ban dự thảo Hiến pháp trong đó Chủ
tịch Hồ Chí Minh làm trưởng ban. Ngày 09/11/1946, tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội
khóa I, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Đây
là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước ta. Có thể nhận định rằng, Hiến pháp năm
1946 là bản hiến pháp dân chủ và tiến bộ nhất ở Đông Nam Á thời kỳ này. Bởi vì, về
nội dung, Hiến pháp thể hiện rõ tư tưởng pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh; về kỹ
thuật lập pháp, bản Hiến pháp năm 1946 là một bản hiến văn ngắn gọn, súc tích gồm 7
chương với 70 điều, trong đó có điểu chỉ trọn vẹn có một dòng.
Việc thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta vào thời điểm bùng nổ cuộc kháng
chiến toàn quốc chống thực dân Pháp đang tới gần, đã cho thấy tính cấp thiết và tầm
quan trọng của bản Hiến pháp. Hiến pháp năm 1946 đã củng cố cơ sở pháp lý, tính hợp
hiến và hợp pháp của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tạo thế và lực cho chính
quyền trở thành vũ khí cần thiết nhất của Đảng và nhân dân trong việc bảo toàn lãnh
thổ, giành độc lập hoàn toàn. Sau khi thông qua Hiến pháp, Quốc hội ra Nghị quyết giao
nhiệm vụ cho Ban thường trực Quốc hội cùng với chính phủ ban bố và thi hành Hiến
pháp khi có điều kiện thuận lợi.
Hiến pháp năm 1946 đã phản ánh thành quả của Cách mạng Tháng Tám, khẳng
định quyền độc lập dân tộc và nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là một bản Hiến pháp tiến bộ, vì lầu đầu tiên
trong lịch sử dân tộc, những nét đặc trưng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của một
nước Việt Nam độc lập, thống nhất, tự do và dân chủ được khẳng định. Đặc biệt, trong
đó khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được thể hiện ngay trong Điều 1:
“nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền binh trong nước là của
toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp,
tôn giáo”.
Tư tưởng lấy dân làm gốc là nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong bản Hiến
pháp, đồng thời thiết lập cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân. Các
chế định này là dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của tư tưởng dân chủ và đề cao
tính dân tộc của nhà nước. Tư tưởng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là tư tưởng
chỉ đạo bao quát toàn bộ nội dung Hiến pháp, được thể hiện cụ thể trong các quy định
về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy chính phủ từ Trung ương đến địa
phương. Hiến pháp đề cao vai trò của Nghị viện nhân dân (Quốc hội), nhấn mạnh vai
trò của Nghị viện trong việc giám sát Chính phủ; đề cao tính độc lập của hệ thống tòa
án; phân quyền rõ nét và hợp lý cho chính quyền địa phương…
Hiến pháp 1946 phân tích, làm rõ những giá trị của các quy định về quyền con
người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, các
quyền tự do dân chủ của con người được đạo luật cơ bản, đạo luật gốc ghi nhận và bảo
đảm. Trong 7 chương của Hiến pháp thì chương về “Nghĩa vụ và quyền lợi của công
dân” được xếp thứ hai (chương 2), gồm 18 điều, trong đó 16 điều trực tiếp quy định
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam: “Tất cả công dân Việt Nam đều