đình rất đặc biệt. Những bức tượng gốm tinh xảo đủ màu sắc mô phỏng tứ linh thú
Long – Lân – Quy – Phụng, và hình dáng bá quan văn võ trong triều đình với nhiều tư
thế được sắp xếp một cách đối xứng và có trật tự thành ba hàng trên mái ngói. Tiền
đình được chia làm 3 gian với 4 hàng, 8 cột gỗ tròn đường kính 35cm, được kê trên bệ
đá xanh tròn 50cm.
Chánh điện được thiết kế cách biệt với tiền đình bằng hệ thống máng thoát
nước giữa hai mái bằng tôn có diện tích gần 200m2 . Trên nóc chánh điện có lưỡng
long tranh châu, lý ngư hóa rồng, tượng trưng cho sự thịnh vượng, như ý. Các hoành
phi, liễn đối khắc bằng chữ Hán, sơn son thếp vàng, cùng với những cặp chim trĩ, loan,
phượng bằng đồng đứng chầu trong tư thế trang nghiêm. Tượng danh tướng Trần
Thượng Xuyên diện áo mão được đặt trên hương án trang trọng nơi chánh điện. Trước
bàn thờ thần là bàn La liệt và bàn Hội đồng nội. Hai bên là bàn thờ Tả ban và Hữu ban
hương án bằng gỗ. Dọc bàn tả hữu có các bệ thờ Thái Giám, Hậu Hiền, Bạch Mã và
Tiền Hiền. Chánh điện có những hàng cột gỗ lim to lớn. Toàn bộ khung kiến trúc
chánh điện được làm bằng gỗ tốt, có cột chống ở giữa kiểu bình nước, được lắp ghép
với kỹ thuật mộng chốt đảm bảo độ bền vững cao.
Hậu cung có diện tích khoảng 120m2 được chia làm ba gian, chính giữa thờ
Tiên sư, hai bên thờ Tiền thứ Việt Nam và Tiền thứ Trung Hoa, được đặt trên bệ thờ
bằng xi măng lót gạch men xanh. Đặc biệt chính điện còn lưu giữ sắc thần của vua Tự
Đức ngũ niên ban cho Trần Thượng Xuyên. Hậu cung có 3 gian với 4 hàng 8 cột, trên
nóc có gắn tượng rồng chầu tháp lam, hai bên có đôi cá chép và lân bằng gốm men
xanh, nền lát gạch hoa. Ngay sau hậu cung còn có khu nhà bếp. Hai bên hông đình là
khoảng sân rộng có miếu thờ Ông Đá bên hữu, thờ Bà ngũ hành bên tả và hương án
Thần Nông được đúc bằng xi măng.
Đối tượng thờ chính đình Tân Lân là Đức ông Trần Thượng Xuyên được bài trí
trong phần điện thờ thể hiện bằng tượng ngồi trên ngai với tư thế uy nghiêm. Trần
Thượng Xuyên là người tỉnh Quảng Đông (Trung Hoa), sinh vào năm nào không rõ và
mất khoảng năm 1720. Ông nguyên là Tổng lãnh binh ba châu Cao - Lôi - Liêm. Khi
vương triều Minh ở Trung Quốc sụp đổ, ông đã nổi dậy chống nhà Thanh để khôi phục
nhà Minh nhưng thất bại. Năm 1679, ông đem hơn 3.000 quân cùng gia quyến theo
đường biển đến Đại Việt xin cư trú. Chúa Nguyễn Phúc Tần chấp thuận cho vào xứ
Đông Phố (tức Biên Hòa ngày nay) khai khẩn, sinh sống.
Trần Thượng Xuyên đưa lực lượng của mình đến định cư tại vùng Nông Nại đại
phố (địa phận Bàn Lân). Cùng nhóm lưu dân người Việt đến trước, ông và lực lượng
trong đoàn tiến hành khai khẩn quy mô lớn. Mặt khác, ông chiêu tập thương nhân
người Hoa kiến thiết phố xá, tạo lập các cơ sở thương mại. Với biệt tài tổ chức, chẳng
bao lâu Trần Thượng Xuyên đã biến vùng đất hoang sơ thành thị tứ buôn bán sầm uất,
kinh tế phát triển nhanh chóng. Nông Nại đại phố (còn gọi là Cù Lao Phố) trở thành
thương cảng phồn thịnh, là trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế vào bậc nhất
phương Nam lúc bấy giờ. Ông là một trong những người có công lớn trong việc khai
phá và xây dựng vùng đất Đồng Nai - Gia Định, về hoạt động quân sự, Trần Thượng
Xuyên là một dũng tướng thao lược được chúa Nguyễn tin dùng trong việc trấn an ở
vùng đất phương Nam. Trần Thượng Xuyên mất ngày 23 tháng 10 âm lịch, năm Canh
Tý (1720), an táng tại mạn bắc dinh Trấn Biên (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Tân
Uyên, tỉnh Bình Dương), ông được người dân tôn kính thờ làm Thành hoàng tại đình
Tân Lân. Ghi nhớ công lao của Trần Thượng xuyên, nhà Nguyễn ban phong nhiều
danh hiệu cao quý “Trân vi tướng, đại đại công thần bất tiệt”, liệt vào bậc Thượng
Đẳng thần.