Kỷ niệm 230 năm ngày sinh vua Minh Mệnh (25/5/1791-25/5/2021)
Hoàng đế Minh Mệnh chính tên là Nguyễn Phước Đảm, sinh ngày 25/5/1791,
tại làng Tân Lộc, Gia Định. Là con thứ tư của vua Gia Long và bà Trần Thị Đương.
Năm Ất Hợi (1815) được lập làm Hoàng Thái Tử. Năm 1820 ông làm vua, đặt quốc
hiệu là Đại Nam, niên hiệu là Minh Mệnh, làm vua được 21 năm (1820-1840). Vua
Minh Mệnh mất ngày 28 tháng Chạp năm Canh Tý (20/1/1841) hưởng thọ 50 tuổi. Sau
khi mất, bài vị của vua được đưa vào thờ ở Thế Miếu với Miếu hiệu Thánh tổ Nhân
Hoàng Đế. Trong thời gian trị vì, ông chú ý đến việc củng cố và hoàn thiện hơn bộ
máy quản lý đất nước xây dựng chính quyền quốc gia một cách có nề nếp khoa học,
phân minh. Kỷ niệm 230 năm ngày sinh của ông, chúng ta cùng điểm lại một số đóng
góp của vua Minh Mệnh đối với nhà Nguyễn và lịch sử phong kiến Việt Nam.
Việc đầu tiên là cải cách bộ máy hành chính. Cuộc cải cách hành chính do vua
Minh Mệnh tiến hành sau 10 năm giữ ngôi vua dựa trên cơ sở bộ máy nhà nước quân
chủ Nguyễn dưới thời Gia Long. Thời bấy giờ, do hoàn cảnh đất nước nhiều năm bị
chia cắt, và có nhiều phe phái thù địch, triều đình chỉ trực tiếp quản lý được dải đất
miền Trung chạy dài từ Thanh Hóa ngoại đến Bình Thuận. Phía Nam, từ Trấn Biên
Hòa trở vào gồm năm dinh, gọi là Gia định Thành. Phía Bắc, từ Sơn Nam hạ trở ra bao
gồm 11 trấn gọi Bắc Thành đều cho một viên võ quan đại thần đứng đầu với chức
danh Tổng trấn, có Hiệp trấn giúp việc. Tuy nhiên, thời kỳ quá độ này cũng bộc lộ
những mặt yếu kém, cản trở xu hướng tập trung quyền lực của nhà nước quân chủ
chuyên chế phương Đông mà vương triều Nguyễn kiên trì theo đuổi. Do vậy, đến thời
Minh Mệnh thì cuộc cải cách hành chính được đặt ra và giải quyết theo hướng củng cố
bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền.
Ông tổ chức lại triều chính, đặt Nội các, thành lập Viện Cơ mật đưa những vị
đại thần có uy tín, có trình độ để cùng nhà vua quyết định những việc quan trọng. Ông
tiến hành bãi bỏ các trấn, dinh, chia cả nước thành tỉnh, châu (cả nước có 31 tỉnh), đặt
các Tổng đốc Bố chánh, án sát, Lãnh binh. Riêng kinh đô, lập thành một phủ, đứng
đầu là phủ doãn. Ông sắp xếp lại các phẩm trật, cho quan lại lãnh lương theo cấp bậc,
trật tự từ nhất phẩm đến cửu phẩm (có chính phẩm và tòng phẩm, tất cả 18 bậc). Việc
sắp xếp lại các đơn vị hành chính đánh dấu một bước phát triển trong quá trình củng
cố nhà nước quân chủ trung ương tập quyền với một hệ thống chủ yếu gồm 4 cấp:
Trung ương - tỉnh - phủ - huyện - làng, xã. Vì thế, nhà nước quân chủ trung tập quyền
Nguyễn đạt mức hoàn chỉnh, trở thành một nhà nước mạnh so với các nhà nước quân
chủ trước đó.
Minh Mệnh là ông vua biết giữ gìn tư cách. Ông học hỏi nhiều, phấn đấu nhiều,
không để ai chê bai về đức tính nghiêm nghị, đúng mực của ông. Ông luôn chú ý đến
việc tề gia, lập ra phủ Tân nhân để trông coi các việc của hoàng tộc, cử người dạy dỗ
con cái. Ông rất chặt chẽ trong việc dùng các quan lại. Người không có học vị, nhưng
có tài vẫn được dùng vào chức vị lớn (trường hợp Nguyễn Tri Phương); người làm
quan nhưng học vị kém, vẫn bị loại. Ông là người tinh thâm nho học, lấy việc tuyển
chọn nhân tài thông qua khoa cử làm trọng. Ông cho xây dựng Văn Miếu thờ Khổng
Tử ở kinh đô Huế và các tỉnh. Việc đào tạo nhân tài từ Kinh đô đến làng xã đều dựa
vào các sách kinh điển của Nho gia và việc tuyển chọn quan lại cũng hoàn toàn thông
qua các Kỳ thi Nho học. Thời Gia Long, cứ sáu năm có một khoa thi hương, chưa mở
thi hội. Thời vua Minh mệnh đổi lại ba năm thi hương một lần, năm nay thi hương thì