Sau một thời gian tích cực chuẩn bị, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa đã được biểu quyết thông qua tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I
ngày 9/11/1946 với 240/242 phiếu.
Bố cục của Hiến pháp 1946 bao gồm: Lời nói đầu, 7 chương và 70 điều. Trong
đó, Chương I quy định về chính thể; Chương II quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của
công dân; Chương III quy định về nghị viện nhân dân; Chương IV quy định về Chính
phủ; Chương V quy định về Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính; Chương VI quy
định về cơ quan tư pháp và Chương VII quy định về sửa đổi Hiến pháp.
Đặc điểm cơ bản của Hiến pháp năm 1946 được thể hiện trong 3 nguyên tắc cơ
bản, đó là: đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; đảm
bảo các quyền lợi dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.
Hiến pháp năm 1946 đã chú trọng đặc biệt đến việc bảo đảm quyền lợi dân chủ
cho nhân dân. Bản Hiến pháp ghi rõ: “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua
Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước
nhân dân”. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nhân dân được bảo đảm các quyền tự
do dân chủ. Theo đó, nhân dân là người trực tiếp bầu ra người đại diện cho mình ở Hội
đồng nhân dân các cấp và Quốc hội, theo chế độ phổ thông đầu phiếu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định rằng:“… Quốc hội đã thu được một số kết
quả làm vẻ vang cho đất nước là đã thảo luận xong bản Hiến pháp… đã làm bản Hiến
pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp đó còn là một vết tích lịch sử Hiến
pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này nữa. Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó
làm nên một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã
độc lập. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có mọi quyền tự
do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: Phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn
ông để được tự do của một quyền công dân. Hiến pháp đó nêu một tinh thần đoàn kết
chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai
cấp”.
Cũng tại kỳ họp, Quốc hội đã ra nghị quyết giao nhiệm vụ cho Ban Thường trực
Quốc hội cùng với Chính phủ ban bố và thi hành Hiến pháp khi có điều kiện. Tuy
nhiên, chiến tranh Đông Dương bùng nổ (19/12/1946) đã làm việc tổ chức Tổng tuyển
cử bầu Nghị viện nhân dân không có điều kiện để thực hiện. Do đó, Hiến pháp 1946
chưa được chính thức công bố và chưa từng có hiệu lực về phương diện pháp lý.
Tại Hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 70 năm Hiến pháp Việt Nam năm 2016, các
đại biểu Quốc hội, các nhà hoạt động thực tiễn, nhà nghiên cứu trao đổi đã cùng thống
nhất rằng, bản Hiến pháp năm 1946 đã tiếp thu có chọn lọc các hiến pháp dân chủ và
tiến bộ của các nước, đồng thời đã “Việt hóa” tối đa cho phù hợp với điều kiện của nước
ta. Điểm nổi bật của mô hình tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp 1946 là đề cao
vai trò của nghị viện nhân dân, cơ quan cao nhất của quyền lực Nhà nước, nhấn mạnh
vai trò của nghị viện trong việc giám sát Chính phủ; đề cao tính độc lập của hệ thống
tòa án - cơ quan tư pháp; phân quyền rõ nét và hợp lý cho chính quyền địa phương...
Mặc dù những quy định này chưa được tổ chức kiểm nghiệm nhiều trên thực tế do điều
kiện lịch sử đất nước lúc bấy giờ nhưng tinh thần, tư tưởng và giá trị của nó đã được đặt
ra và kế thừa trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 2013…
Có thể nói, Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta ra đời đã
đặt nền tảng cho đất nước đi vào thiết lập một thể chế chính trị dân chủ vững chắc, với
đầy đủ các cơ quan lập pháp, tư pháp và hành pháp, đoạn tuyệt với chế độ chính trị thực
dân và quân chủ phong kiến; đặt nền móng cho một bộ máy Nhà nước kiểu mới, đồng