phải là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là những tiếng đau khổ kia thoát ra từ
những kiếp đời lầm than”. Với ông, nghệ thuật không nên chạy theo cái đẹp phù phiếm
mà quay lưng với hiện thực. Nghệ thuật phải luôn nương theo thực tại, phục vụ đời sống,
quan tâm tới mảnh đời bất hạnh, những kiếp người lầm than. Cùng với việc phê phán
văn học lãng mạn thoát li, ông còn chỉ rõ hạn chế của những tác phẩm phản ánh hiện
thực một cách mờ nhạt. Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao bày tỏ trong tác phẩm “Đời
thừa” là: “một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn”,
đặc biệt phải thấm nhuần nội dung nhân đạo cao cả, “chứa đựng được một cái gì lớn lao,
mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái…” Điều
này có thể hiểu là với Nam Cao tác phẩm văn chương phải chứa đựng trong đó tư tưởng
nhân đạo mới mẻ, sâu sắc.
Trong số các nhà văn hiện thực trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nam Cao
là người có ý thực trách nhiệm cao về ngòi bút của mình. Đối với ông, nghề văn trước
hết phải là một nghề sáng tạo. Nhà văn phải biết khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng
tạo những cái gì chưa có. Để làm được điều ấy, Nam Cao cho rằng nhà văn phải “đọc,
ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán”, đặc biệt phải có lương tâm
nghề nghiệp, nhất là không được cẩu thả, bởi “Sự cẩu thả trong bất cứ việc gì đã là bất
lương rồi nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Quan điểm nghệ thuật
tiến bộ này góp phần quan trọng giúp ông có nhiều chuyển biến tư tưởng và nghệ thuật
ngay sau khi tham gia cách mạng. Từ việc thấy rõ trách nhiệm phản ánh hiện thực của
dân lao động, Nam Cao khẳng định sứ mệnh của nhà văn lúc đó là phục vụ cho cuộc
kháng chiến. Đây là bước tiến vượt bậc trong quan điểm nghệ thuật của ông. Qua đó
cho thấy sự gặp gỡ giữa văn học hiện thực và văn học cách mạng.
Trong nền văn xuôi Việt Nam, Nam Cao là cây bút có phong cách nghệ thuật độc
đáo. Ông quan tâm đặc biệt tới đời sống tinh thân, luôn có hứng thú khám phá thế giới
nội tâm của con người. Là nhà văn có biệt tài miêu tả và phân tích tâm lý, ông rất sắc
sảo trong việc phân tích và diễn tả quá trình tâm lý phức tạp của nhân vật, những hiện
tượng lưỡng tính dở say dở tỉnh, dở khóc dở cười…Tâm lí nhân vật trở thành trung tâm
của sự chú ý, là đối tượng trực tiếp của ngòi bút Nam Cao. Nam cao là nhà văn có giọng
điệu riêng, buồn thương, chua chát, có khi dửng dưng, có lúc lạnh lùng mà đằm thắm
yêu thương…
Sáng tác chính của ông trước cách mạng gần 60 truyện ngắn, một truyện vừa
(Truyện người hàng xóm), một tiểu thuyết (Sống mòn), một số vở kịch và một số bài
thơ. Truyện của Nam Cao chủ yếu viết về hai đề tài chính là người tri thức nghèo và
người nông dân nghèo. Dù viết về đề tài nào, truyện của Nam Cao cũng thể hiện tư
tưởng chung: nỗi băn khoăn đau đớn trước tình trạng con người bị hủy hoại nhân phẩm
vì nghèo đói. Sau Cách mạng tháng Tám, với những tác phẩm nổi bật như truyện ngắn
Đôi mắt, tập nhật ký Ở rừng, tập bút ký Chuyện biên giới. Sáng tác của ông thời kỳ này
ca ngợi cuộc kháng chiến, khẳng định lập trường và thái độ đúng đắn của nhà văn đối
với nhân dân và cách mạng. Ông là nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn
kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).
Nhà văn Nam Cao đã để lại trong lòng bạn đọc yêu văn học hiện thực những ấn
tượng vô cùng sâu sắc. Những sáng tác của Nam Cao nổi bật một phong cách trữ tình,
sâu lắng, xót xa, hóm hỉnh mà tế nhị. Ông là nhà văn đồng tình với khát vọng sống lương
thiện. Nhà văn Nam Cao đã có những đóng góp rất lớn trong nền văn học Việt Nam.
Các tác phẩm của ông đã để lại nhiều giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Những người