đương thời. Nhất là dùng trong việc cổ động tân học cùng chủ trương duy tân của
mình.
Năm 1908, phong trào đòi giảm sưu thuế nổ ra khắp Trung Kỳ, Phan Châu
Trinh bị thực dân Pháp bắt giam và đày ra Côn Đảo. Đày thân ở Côn Đảo, hằng ngày
ông đi câu cá và đánh bẫy chim làm vui, mỗi khi được chim cá thì đem bán lấy tiền
tiêu, hay tặng cho các anh em. Ông sở dĩ được tự do như thế là vì cụ rất khéo léo về
đường ngoại giao, đi tới đâu làm vui lòng người tới đó. Được sự can thiệp của Hội
Nhân Quyền Pháp, năm 1911, thực dân Pháp ở Đông Dương thả tự do cho ông. Nhưng
trên thực tế, khi về tới Sài Gòn, ông bị giam lỏng ở Mỹ Tho. Trên danh nghĩa nói là
được tự do nhưng thật sự ông bị quản thúc chặt chẽ, do đó ông phản đối quyết liệt
bằng cách viết thư gửi chính phủ Pháp yêu cầu, hoặc trả ông về Côn Lôn, hoặc để ông
tự do sang Pháp. Thực dân chấp thuận cho ông đi pháp, họ nghĩ đây là cơ hội tốt để
“đày khéo” Phan Châu Trinh, nên đồng ý cho ông xuất ngoại với người con trai đầu
lòng là Phan Châu Dật
Vừa đặt chân đến nước Pháp, ông viết một loạt tác phẩm như: Trung Kỳ dân
biến thỉ mạt ký, Đông Dương chính trị luận trước để tự biện hộ, thân oan cho các đồng
chí, sau trình nghị viện Pháp để chúng thấy rõ cái tệ trạng của nền hành chính thuộc
địa ở Đông Dương, nhất là cảnh tham quan ô lại của bọn tay sai Nam triều. Phan Châu
Trinh ở Pairs, cho Phan Châu Dật vào học trường Montparnasse, chẳng bao lâu Phan
Châu Dật nổi tiếng giỏi nhất lớp. Ông làm nghề rửa ảnh, hết sức cần kiệm nuôi con ăn
học. Cuộc sống khó khăn, mỗi ngày ông chỉ mua những món lòng heo, gà, dê, hai cha
con ăn sống qua ngày. Thân ở nước Pháp, nhưng lòng vẫn hướng về tổ quốc. Ông cổ
động xin chính phủ Pháp nhanh cải cách cái chính sách cai trị tàn bạo thuộc địa. Khi
nghe ở nước nhà có việc đào lăng vua Tự Đức, ông viết báo Tây cực lực phản đối.
Ông lại diễn thuyết, khuyên bảo các thanh niên và các bạn lao động ta ở Pháp. Từ ấy
các quan lại ở thuộc địa đem lòng nghi kỵ, chú ý từng cử động của ông.
Tháng 9 năm 1914, chiến tranh Pháp – Đức bùng nổ. Phan Châu Trinh không
chịu đi lính đánh thuê cho chúng nên bị bọn quan lại thực dân ở Đông Dương và ở
Pháp âm mưu ám hại bằng cách vu cáo ông làm gián điệp cho Đức. Do đó, ông bị bắt
giam ở Khám quốc sự phạm Santé 11 tháng. Sau nhờ sự can thiệp của các nhân vật
trong hội Nhân quyền và Dân quyền, lại một lần nữa bọn thực dân buộc lòng phải trả
tự do cho ông. Từ năm 1915 đến năm 1925, Phan Châu Trinh thường đi lại giữa Paris,
Marseille, Bordeaux… vừa mưu sinh vừa hoạt động trong giới Việt kiều cũng như một
số quan chức Pháp. Năm 1922, vua Khải Định được thực dân đưa sang Pháp nhằm
tuyên truyền, dụ dỗ một số người Việt Nam nhẹ dạ và thiếu lập trường chính trị. Nhân
cơ hội này, ông viết một lá thư gửi thẳng tới Khải Định, trước kể rõ những tội lỗi của
ông ta và sau tố cáo trước dư luận Pháp về chuyến đi ám muội này. Lá thư này, lúc đó
được đăng trên các báo ở Paris và gây lên một tiếng vang lớn trong chính trường và dư
luận ở Pháp.
Năm 1925, Phan Châu Trinh về nước, nhân dân Sài Gòn nhất là học sinh nồng
nhiệt chào đón. Từ ngày về nước, ông phải làm việc gấp bội, nên trong một thời gian
ngắn ông đổ bệnh. Tuy vậy trong thời gian này, ông đã tổ chức hai buổi diễn thuyết tại
nhà Hội thanh niên Sài Gòn về “Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa”, “Đạo đức
luân lý Đông - Tây”. Bệnh tình của ông mỗi lúc một nặng. Trong thời gian bệnh nặng,
ông về ở tại Hóc Môn (nhà của ông Nguyễn An Cư, chú ruột Nguyễn An Ninh). Ngày
24/3/1926, lúc 21 giờ 30, ông từ trần ở tuổi 54. Đám tang nhà chí sĩ họ Phan được xem
như quốc tang, không chỉ ở Sài Gòn, mà cả toàn quốc đều cử hành vô cùng trọng thể.
Có nơi học sinh còn mít tinh, biểu tình, bãi khóa, đã gây nên một xúc động lớn trong