580 nam ngay sinh cua vi trang nguyen da tai Luong The Vinh

580 nam ngay sinh cua vi trang nguyen da tai Luong The Vinh

1 Page 1

▲back to top
Kỷ niệm 580 năm ngày sinh của vị trạng nguyên đa tài Lương Thế Vinh
(17/8/1441 - 17/8/2021)
Nói đến Lương Thế Vinh, mọi người thường nhớ đến một nhà toán học đại tài
với danh xưng là Trạng Lường (ông Trạng tính toán giỏi). Ông cũng là một nhà nghiên
cứu nghệ thuật uyên thâm và là một vị quan thanh liêm chính trực. Xuất hiện trong thời
buổi khoa học chưa phát triển, ông được coi là nhân tài hiếm có và được ngưỡng mộ với
nhiều tư cách: Một vị đại thần có công với dân với
nước, một người thầy uyên bác đào tạo nên những
danh tài, nhà văn, nhà thơ, nhà toán học bẩm sinh,
nhà nghiên cứu nghệ thuật có lí luận về chèo và
nhạc dân tộc. Những ghi chép của ông đã giúp các
thế hệ sau có thể hiểu thêm và phân tích sâu hơn
những gì diễn ra trong lịch sử nước ta.
Lương Thế Vinh sinh ngày 1 tháng 8 năm
Tân Dậu (tức ngày 17/8/1441) trấn Sơn Nam nay
là xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Thời niên thiếu, Lương Thế Vinh đã nổi tiếng là
thần đồng, thông minh, nhanh trí. Lớn lên, Lương
Thế Vinh càng học giỏi, học có phương pháp, kết
hợp học với lao động, vui chơi giải trí. Lúc thả diều,
dựa vào dây diều ông có thể tính toán ước lượng
chiều dài, chiều cao. Khi câu cá ông tìm hiểu đời
sống các sinh vật, ước tính đo lường sự vật rồi kiểm
tra lại… Chỉ nhờ vào quan sát, Lương Thế Vinh biết
vận dụng những định luật của tự nhiên mà không hề được ai mách bảo. Đặc biệt, Lương
Thế Vinh rất mê chèo. Nhờ có trí nhớ tốt, tuy con nhỏ nhưng đã thuộc lòng cả chục vở,
lại biết chơi nhiều nhạc cụ của phường bát âm. Chưa đến hai mươi tuổi, tài học của
Lương Thế Vinh đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 23 tuổi, đời vua Lê Thánh
Tông, năm Quang Thuận thứ tư (1463), Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý
Mùi.
Đỗ đạt cao, Lương Thế Vinh được bổ chức Hàn lâm thị giảng, để giảng văn thơ
hầu vua. Ông được vua Lê Thánh Tông giao trông nom công việc văn quán với chức Tri
vinh văn quân, sau làm Hàn lâm Thị thư chưởng Hàn lâm viện sự, đứng đầu Viện hàn
lâm. Những năm làm quan trong triều, ông đã thực hiện trọn chức trách đối với một
trung thần vì nước vì dân. Với tài năng và tư cách liêm chính, ông được vua rất tín
nhiệm. Việc gì vua cũng nhờ ông tham mưu, đi đâu vua cũng điều ông đi cùng. Với bản
tính chính trực, thẳng thắn, ông không im lặng trước những sai trái của quan liêu, kể cả
những người quyền cao chức trọng hơn mình. Ông đã vạch tội ba vị đại thần ăn hối lộ,
tham nhũng và nhà vua đã cách chức cả 3 vị này, giao cho pháp ti trị tội. Ngoài những
việc ở Hàn lâm viện, Lương Thế Vinh còn đảm nhận việc bang giao, thể hiện là một nhà
ngoại giao có tài. Ông đã thay mặt vua viết nhiều bài biểu gửi vua nhà Minh, giải quyết
những tranh chấp, gây rối của bọn quan lại phương Bắc ở những vùng biên cương, đề
ra những giải pháp mềm dẻo mà vẫn giữ được chủ quyền. Trước khi tiếp các sứ thần
Trung Hoa, ông tìm hiểu kĩ tâm lí và phong tục tập quán của họ, kết hợp với những đối
đáp văn chương thơ phú nên đã thuyết phục được họ để thực hiện mục tiêu của mình.

2 Page 2

▲back to top
Ngoài ra ông còn định hướng cho quan hệ ngoại giao và phương sách đối ngoại của nhà
nước Đại Việt với các nước láng giềng phương Nam để giữ yên và mở rộng bờ cõi.
Ngay từ khi còn nhỏ, Lương Thế Vinh đã rất quan tâm những kiến thức thực tế.
Các trò chơi thời thơ ấu đã chứng tỏ ông sớm có khả năng quan sát những hiện tượng tự
nhiên để vận dụng một cách sáng tạo. Vào thời trung đại ở nước ta, rất ít người hiểu
được tầm quan trọng của môn toán học. Bản thân Lương Thế Vinh ý thức được vai trò
đặc biệt của toán học. Cho nên khi giữ trọng trách ở Hàn lâm viện, ông thường xuyên đi
thực tế, dùng khả năng am hiểu về toán học của mình để giúp đỡ mọi người. Ông về
những nơi có tranh chấp ruộng đất, ông dùng dây đo đạc bờ vùng bờ thửa, tính toán và
đứng ra phân xử, hòa giải các mâu thuẫn trong dân. Sau nhiều năm lao động thực nghiệm
vất vả, ông đã tìm ra nguyên tắc tính diện tích các thửa ruộng có hình thù khác nhau một
cách chính xác. Từ đó, ông đã tổng kết và viết cuốn Đại thành toán pháp, trình bày các
phép tính thông thường, các kiến thức số học, có bảng cửu chương, phép tính nhân, phép
bình phương (khai căn), đồng phân (chia đều), cùng với những áp dụng thực tế các phép
tính trong việc buôn bán, cân đong, đo đạc ruộng đất… Thường sau mỗi phép tính, ông
tóm tắt quy tắc thành bài thơ nôm giản dị, dễ nhớ. Cuốn Đại thành toán pháp của Lương
Thế Vinh trở thành sách giáo khoa về Toán cho học trò nước ta hàng mấy thế kỷ trước.
Ngoài việc triều chính, Lương Thế Vinh tham gia dạy học ở Quốc Tử Giám, Sùng
Văn Quán và Tú Lâm cục - những trường cao cấp đào tạo nhân tài cho đất nước thời
bấy giờ. Trong cuốn Nhng người thy trong sVit có viết Lương Thế Vinh là “người
thầy khác mọi thầy”. Tác giả cho rằng quan điểm giáo dục của thầy giáo Lương Thế
Vinh không giống những bạn đồng liêu. Trong số các chế, biểu dâng lên vua, nhiều lần
ông mạnh dạn đề xuất những cải cách về học hành, thi cử, lan tỏa việc học ở nông thôn,
không ưu ái các quan lại đương chức trong việc thi cử để chọn đúng người tài. Ngoài
đứng đầu Viện hàn lâm, ông còn kiêm nhiệm nhiều chức quan trọng khác. Bằng kinh
nghiệm của mình, ông chủ trương dạy học trò ngoài học tập chuyên tâm, còn phải biết
kết hợp với giải trí thoải mái, gần gũi với con người, hòa mình với thiên nhiên và phải
biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống. Do vậy, học trò của Lương Thế Vinh có
nhiều người đỗ đạc cao như Trần Tất Đạt - tiến sĩ năm 1469, Trần Bích Hoành - thám
hoa năm 1478, Trần Xuân Vinh - tiến sĩ năm 1499 và đặc biệt là Lương Đắc Bằng - thầy
của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông luôn được học trò quý mến và kính trọng.
Lương Thế Vinh mất năm 1495 tại quê nhà, thọ 54 tuổi. Ông là một nhân tài hiếm
có trong lịch sử thời phong kiến nước ta. Cuộc đời và sự nghiệp của Lương Thế Vinh là
tấm gương sáng của một con người thanh liêm, chính trực, yêu nước, thương dân, không
chấp nhận thói hư tật xấu của xã hội, nhất là chốn quan trường. Ngày nay, để ghi nhận,
tri ân và tuyên truyền cho thế hệ sau về những đóng góp của Lương Thế Vinh, nhiều
đường phố, trường học được đặt theo tên của ông.
Yên Yên