Kỷ niệm 160 năm ngày Lãnh binh Nguyễn Đức Ứng và 27 nghĩa binh hy
sinh (26/12/1861 – 26/12/2021)
Thực dân Pháp đánh chiếm Biên Hòa
Ngày 24 tháng 2 năm 1861, đại đồn Chí Hòa, thành lũy cuối cùng của tỉnh Gia
Định rơi vào tay giặc. Tán lý Định Biên Nguyễn Duy hy sinh. Kinh lược đại thần Nguyễn
Tri Phương bị thương phải rút về Biên Hòa. Để ngăn chặn bước tiến của địch, triều đình
Huế đã cử Khâm sai đại thần Nguyễn Bá Nghi cùng viện binh vào Biên Hòa chống giặc.
Tuy nhiên, lo ngại thế giặc mạnh nên Nguyễn Bá Nghi đã cử người nghị hòa với Pháp.
Song chủ trương nghị hòa bất thành. Trong khi đó quân dân Biên Hòa quyết tâm, đồng
lòng chống giặc và đã đánh lui nhiều đợt tấn công của địch.
Tháng 10 năm 1861, phó Đô đốc Bonard sau khi thay tướng Leonard Charner đã
lên kế hoạch đánh chiếm Biên Hòa. Theo đó quân Pháp sẽ dùng chiến thuật gọng kìm
tấn công bằng đường bộ và đường thủy để hạ thành Biên Hòa.
Ngày 13 tháng 12 năm 1961, Bonard đã gửi tối hậu thư cho Khâm sai đại thần
Nguyễn Bá Nghi đòi quân triều đình triệt thoái các pháo đài và các vật cản trên sông
Đồng Nai. Tuy nhiên, sáng ngày 14 tháng 12, khi chưa nhận được câu trả lời, ông ta đã
ra lệnh tấn công Biên Hòa theo bốn cánh quân đó là:
Cánh quân thứ nhất do trung tá Comte chỉ huy 2 đại đội kỵ binh, 100 lính Tây
Ban Nha, 50 kỵ binh, 4 khẩu pháo sẽ hạ đồn Gò Công trau trảu rồi tiến về phía lũy Mỹ
Hòa.
Cánh quân thứ hai do đại tá Domenech Diego chỉ huy 100 lính Tây Ban Nha, 1
đại đội lính thủy đánh bộ đi thẳng từ Sài Gòn lên Mỹ Hòa.
Cánh quân thứ ba do đại tá thủy quân Le Bris chỉ huy 2 đại đội lính thủy theo
sông Đồng Nai bắn phá các đồn và vật cản chướng ngại rồi đổ bộ lên Mỹ Hòa.
Cánh quân thứ tư do đại tá Harel chỉ huy tàu Renommée, theo sau có các xuồng
sẽ đi ngược Rạch Chiếc ở phía nam Gò Công trau trảu, phá vật cản trên rạch Gò Công
rồi hội quân ở Mỹ Hòa.
Quân đội triều đình đã chống trả quyết liệt và bắn nhiều phát súng thần công vào
tàu giặc, làm gãy cột buồm tàu Alarme. Tuy nhiên, trước sức tấn công của các lực lượng
thủy quân và bộ binh có sự trang bị vũ khí hiện đại, với đạn pháo, tàu chiến, quân ta
phải bỏ lũy Mỹ Hòa rút chạy.
Sáng ngày 17 tháng 12, Đô đốc Bonard đích thân chỉ huy hành quân, theo sông
Đồng Nai đến trước thành Biên Hòa trên tàu hộ tống Ondine; Đại úy thủy quân Jonnaid
chỉ huy pháo hạm hộ tống soái hạm; Các cánh quân bộ và tàu địch dàn trận bắn đại bác
vào thành Biên Hòa, mở đường cho bộ binh ào ạt xung phong. Quân ta chống cự kiên
cường, dũng cảm nhưng trước thế giặc mạnh nên đến đêm ngày 17, Nguyễn Bá Nghi
phải ra lệnh quân rút khỏi thành Biên Hòa. Ngày 18 tháng 12, thành Biên Hòa hoàn toàn
rơi vào tay giặc.
Trận quyết chiến của quân đội triều đình tại Lũy Ký Giang
Sau khi rút quân khỏi thành Biên Hòa, quân triều đình chạy theo hướng Bà Rịa.
Để ngăn chặn sự truy đuổi của kẻ thù, triều đình Huế đã cử Lãnh binh Nguyễn Đức Ứng
vào Biên Hòa chỉ huy quân chống giặc. Tại Long Thành, Lãnh binh Nguyễn Đức Ứng
đã thu nạp tàn quân từ đại đồn Chí Hòa và chiêu mộ quân dân địa phương, xây dựng
tuyến phòng ngự tại lũy Bà Ký - sông Ký Giang nhằm ngăn cản bước tiến của địch.
Sáng ngày 26 tháng 12 năm 1861, đại tá Domenech Diego chỉ huy một cánh quân
tiến đánh huyện Long Thành. Tại ngã ba Nha Mát, ấp Bà Ký, quân Pháp đã gặp phải sự
chống trả quyết liệt của quân triều đình và quân dân địa phương do Lãnh binh Nguyễn