động, xây dựng tổ chức cách mạng theo đường lối đúng đắn. Tháng 6/1925. Hồ Tùng
Mậu cùng Lê Hồng Sơn giúp Nguyễn Ái Quốc xây dựng Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên, lúc đó Cộng sản đoàn có 5 người trong đó có Hồ Tùng Mậu. Tháng 12/1927,
ông cùng một số chiến sĩ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tham gia khởi nghĩa
Quảng Châu nên bị bắt giam, đến cuối năm 1929 mới được tha. Trong thời gian đó, Hồ
Tùng Mậu được bầu vắng mặt làm Ủy viên chấp hành Tổng bộ Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên tại Đại hội đại biểu lần thứ I của tổ chức này. Ngày 30/6/1931, khi
thuyền vừa cập bến Thượng Hải, Hồ Tùng Mậu bị mật thám Pháp bắt và giải về Việt
Nam xét xử. Ông bị kết án tù chung thân. Chúng giải ông về giam ở nhà lao Hỏa Lò (Hà
Nội). Từ tháng 12/1931 đến tháng 3/1945, ông bị chuyển qua các nhà tù Vinh, Lao Bảo,
Kon Tum, Buôn Ma Thuột…Cuộc sống tù đày cơ cực đã tôi luyện thêm tinh thần lạc
quan, tình đồng chí, nghĩa đồng bào ở người cộng sản chân chính. Trong thời gian ở tù,
chính quyền thực dân Pháp bày mưu, thủ đoạn dụ dỗ ông hợp tác với chúng, thôi làm
cách mạng. Nhưng ông cương quyết cự tuyệt. Do vậy chúng lại đưa ông đi an trí ở căng
Trà Khê (Phú Yên), không biết ngày được tự do. Ngày 9/3/1945, lợi dụng phát xít Nhật
đảo chính Pháp, Hồ Tùng Mậu cùng các tù chính trị trốn khỏi căng an trí Trà Khê tỉnh
Phú Yên và trở về quê nhà. Tháng 7/1945, Xứ ủy Trung Kỳ điều động ông tham gia
chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đang đến gần. Người chiến sỹ cách
mạng giàu kinh nghiệm lại lên đường tiếp tục cuộc chiến đấu.
Sau khởi nghĩa, Hồ Tùng Mậu được giao nhiều nhiệm vụ. Ở bất kỳ cương vị nào,
ông đều hăng hái, nhiệt tình và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, trên cương
vị Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu IV, ông làm việc quên mình với tác phong
bình dị, chan hòa, gần gũi. Những chủ trương đúng đắn được Hồ Tùng Mậu thực hiện
trên địa bàn Liên khu IV trong những năm lãnh đạo kháng chiến ở đây hoàn toàn thống
nhất với tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh. Ông đã vận dụng tốt chính sách đại đoàn
kết dân tộc và đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, giữ vững vùng tự do Thanh -
Nghệ - Tĩnh, bám sát chỉ đạo cuộc chiến đấu ở vùng Bình - Trị - Thiên gay go, gian khổ.
Ông là người gần gần gũi với nhân dân. Với thanh niên, ông giao tiếp rất thân tình, giải
thích mọi việc thấu tình đạt lý. Với phụ nữ, ông thể hiện sự trân trọng, quý mến, động
viên. Ông luôn nhắc nhở cán bộ, thanh niên, phụ nữ xây dựng, củng cố niềm tin vào tiền
đồ dân tộc. Ông thường nhắc nhở với các đồng chí của mình: Đảng phải sát quần chúng,
tránh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, đảng viên phải gương mẫu, là đầu tàu trong mọi việc.
Ông xứng đáng là vị Chủ tịch có uy tín cao trong lòng nhân dân.
Trên cương vị Tổng thanh tra Ban thanh tra Chính phủ, rất cần đến phẩm chất
đạo đức, thanh liêm, trung thành, trung thực, sâu sát, cụ thể, Hồ Tùng Mậu đã hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ thanh tra Nhà nước và kiểm tra Đảng. Cách đánh giá sự việc
khoa học, chính xác, khách quan trên cơ sở coi trọng việc dựa vào quần chúng, lắng
nghe ý kiến quần chúng của Ban thanh tra Chính phủ đã góp phần đặt nền móng đầu
tiên trong quá trình xây dựng hệ thống tư tưởng và lý luận của Thanh tra Việt Nam,
trong đó có công lao to lớn của Hồ Tùng Mậu. Hoạt động thanh tra trong thời kỳ này
dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Tùng Mậu đã được triển khai liên tục, bám sát vào việc