điều chuyển về Tòa sứ Hải Phòng. Tại đây, ông thường xuyên phải ra hiện trường, có
dịp làm quen với nhiều thủy thủ nước ngoài như Pháp, Anh, Hoa và ông có cơ hội tiếp
xúc với nhiều nguồn thông tin, nhiều tài liệu sách vở, để phục vụ cho việc học tập của
mình. Chẳng bao lâu ông dịch được cả tiếng Hoa, tiếng Anh. Bằng phương pháp tự
học, kiến thức của ông đã phong phú, sâu rộng. Ông bắt đầu tham gia viết báo, với tư
cách cộng tác viên cho tờ báo tiếng Pháp “Courrir de Hai Phong – Báo Hải Phòng”
được tòa soạn chấp nhận, đăng tải. Ở Hải Phòng khoảng 3 năm, Nguyễn Văn Vĩnh lại
chuyển về Tòa sứ Bắc Giang.
Năm 24 tuổi. ông được điều chuyển về Tòa Đốc lý Hà Nội. Cùng năm 1906,
ông được cử đi Hội chợ thuộc địa tại thành phố cảng Marseille, Pháp. Ở Pháp 5 tháng,
ông tận mắt thấy nền văn minh của một nước tân tiến châu Âu. Ông được tiếp cận với
kỹ nghệ in ấn và báo chí. Đây cũng là bước ngoặt trong cả một đời dấn thân cho sự
nghiệp văn hóa của ông sau này. Trở lại Việt Nam, ông xin thôi làm công chức của
Tòa Đốc lý Hà Nội. Từ đó, một Nguyễn Văn Vĩnh có chí hiên ngang, đáng mặt là
trang hào kiệt, xuất hiện trong văn giới cũng như trên đường chính trị.
Đầu tiên, Nguyễn Văn Vĩnh cùng ông Dufour mở nhà in thứ nhất ở Hà Nội.
Lần lượt chủ trương hết báo này đến báo khác. Và đem những sách hay của Pháp. của
Trung Hoa dịch ra Việt văn. Gặp thời cơ thuận tiện, ông cũng dấn thân vào đường
chính trị, hoạt động chính trị hăng hái không kém phần phục vụ văn hóa. Nguyễn Văn
Vĩnh làm báo, làm chính trị, ông chủ trương thư viện “Âu Tây tư tưởng” chuyên dịch
các sách Âu Tây; ở phương diện nào cũng được đồng bào chú ý.
Từ trước tới nay, các học giả, các bậc văn nhân trong nước ấn tượng với
Nguyễn Văn Vĩnh bởi câu nói của ông: “Nước Nam ta mai sau hay dở ở chữ quốc
ngữ”. Lấy câu nói đó làm phương châm, lấy báo giới làm vũ khí tuyên truyền cổ động,
ông hăng hái đi tiên phong và ráo riết trong mặt trận văn hóa, mở được còn đường cho
“quốc ngữ” phát huy sắc thái. Sự cố gắng và sức làm việc phi thường của ông đã góp
phần rất quan trọng trong việc truyền bá kiến thức và văn hóa phương Tây trong dân
Việt, và đưa xã hội Việt Nam đi đến chỗ dần chấp nhận chữ quốc ngữ. Sau gần ba thế
kỷ từ khi cuốn Từ điển Việt – La – Bồ của Alexandre de Rhodes ra đời, người Việt
Nam mới thật sự đoạn tuyệt với chữ viết của Trung Hoa, chính thức chuyển sang chữ
quốc ngữ. Đây thực sự là một một cuộc chuyển hóa vô cùng lớn lao, trong đó Nguyễn
Văn Vĩnh đóng vai trò là người tiên phong. Mặc dù chữ Quốc ngữ và những người
truyền bá chữ được đặt dưới sự bảo trợ của Chính quyền thuộc địa, nhưng người Pháp
không thể ngờ rằng, khi loại chữ này đã trở thành chữ viết của dân chúng để truyền đạt
tư tưởng và nguyện vọng, thì chính quyền thuộc địa lúc này đã không thể kiểm soát
được nữa và nó đã trở thành nhân tố quan trọng trong công cuộc giành độc lập của dân
tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam sau này cũng nhận thấy việc truyền bá chữ
Quốc ngữ là một biện pháp để giáo dục quần chúng và đưa quần chúng đi theo con
đường cách mạng của Đảng và Mặt trận Việt Minh tiến tới Cách mạng Tháng Tám
năm 1945 thắng lợi.
Từ đó, Nguyễn Văn Vĩnh chuyển hẳn sang nghề làm báo và xuất bản. Viết bài
đăng báo, dưới những biệt hiệu: “N.V.V”, “Tân Nam Tử, Mũi Tẹt Tử, Tổng Già, Lang
Già, Đào Thị Loan, Nguyễn Văn Vĩnh” ứng dụng đủ các thể văn, và lối nào cũng được
đông đảo độc giả hoan nghênh. Bên cạnh đó, ông cũng là hội viên rất tích cực của hai
hội lớn là Trí Tri và Khai Trí Tiến Đức. Song song với công việc mà cả cuộc đời ông
say mê kể trên, ông còn tham gia hoạt động chính trị, làm Uỷ viên Hội đồng Thành
phố Hà Nội khi mới 25 tuổi (1907), trong nhiều khoá liên tiếp làm hội viên Hội đồng
Tư vấn Bắc Kỳ (tức Viện Dân biểu) từ năm 1913, và thành viên của Đại Hội đồng