1851 (Tự Đức thứ 4), triều đình cấp tiền để cất lại đình cách đình cũ 400 mét về phía
bên phải. Năm 1960, đình được trùng tu, mở rộng chánh điện. Trải qua mấy thế kỉ,
vượt qua bao thăng trầm của lịch sử đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh đã trở nên như hôm
nay, luôn vững bền trước sức ép của những cuộc chiến tranh ác liệt, khắc khe của thiên
nhiên. Vùng đất cù lao phố nói chung và đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh nói riêng luôn
mang một giá trị cao quý đẹp đẽ, thể hiện lòng tưởng nhớ của đời sau dành cho vị khai
quốc công thần.
Nguyễn Hữu Cảnh sinh năm 1650, tại xã Chương Tín, huyện Phong Lộc (nay là
xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình). Là một vị tướng tài, Nguyễn Hữu
Cảnh được chúa Nguyễn Phúc Chu sai làm Thống suất kinh lược xứ Đồng Nai năm
1698 (Mậu Dần). Trong chuyến kinh lược, ông đã thực hiện một số công việc quan
trọng, đặt nền tảng cho công cuộc khai khẩn mạnh mẽ và quản lý vùng Nam Bộ thời
bấy giờ. Năm 1699, Nguyễn Hữu Cảnh thực hiện nhiệm vụ trấn an vùng biên giới Tây
Nam Bộ. Trên đường trở về, ông bị bệnh và mất tại Rạch Gầm (Mỹ Tho) vào ngày 16
tháng 5 năm 1700. Linh cữu của ông được đưa về Cù Lao Phố, sau đó đưa về chôn cất
nơi quê hương là đất Quảng Bình. Ông đã góp phần quan trọng trong việc phát triển
của vùng đất phương Nam. Chúa Nguyễn truy tặng Nguyễn Hữu Cảnh là Hiệp tán
công thần, Đặc tiến Chưởng dinh, Tráng hoàn hầu, Thời các vua Nguyễn, ông được
truy phong Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ quốc Chưởng cơ với tước Lễ Thành
hầu, được thờ tại Thái miếu. Khi Nguyễn Hữu Cảnh mất, nhân dân Biên Hoà - Đồng
Nai thương kính, tỏ lòng biết ơn đã cải đình Bình Hoành thành đình Bình Kính thờ
ông. Nơi huyền táng linh cữu ông, người dân xây mộ để tưởng vọng. Nguyễn Hữu
Cảnh được lòng dân Biên Hoà - Đồng Nai tôn thờ như một vị thần có công mở cõi,
khai sáng xứ Đồng Nai. Trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, đền thờ, mộ
Nguyễn Hữu Cảnh vẫn được người dân chăm lo, hương khói gìn giữ, tu bổ. Đến nay
đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa nhưng ngôi đền vẫn giữ được những nét kiến
trúc cổ kính, nghệ thuật trang trí tinh tế, độc đáo.
Kiến trúc ban đầu của đền không còn lưu giữ được do sự hủy hoại của tự nhiên.
Năm 1851, đền được xây lại và cách vị trí cũ khoảng 400 mét. Di tích trải qua nhiều
lần trùng tu, kiến trúc hiện tồn tại theo dạng chữ nhị. Từ ngoài vào theo lối chính có ba
cửa. Chánh điện hình vuông, tường gạch, nền lát gạch tàu, mái lợp ngói. Gian giữa
chánh điện thờ thần, hai bên thờ tả ban, hữu ban liệt vị. Hàng cột hành lang mặt trước
đắp trang trí hình ảnh những con rồng cuộn, đối chầu với nhau. Nội điện có ba hàng
cột gỗ lớn treo những liễn đối và các hoành phi, bao lam, hương án bằng gỗ được
chạm trổ tinh tế các đề tài dân gian. Các hoành phi thể hiện dưới dạng đại tự chữ Hán,
liễn đối được trang trí hoa văn sơn son thếp vàng. Đối tượng thờ chính là Thượng đẳng
công thần Nguyễn Hữu Cảnh. Phía sau chánh điện là khu nhà khách, nhà bếp và nhà
kho. Phần mộ của Nguyễn Hữu Cảnh tọa lạc trên gò đất phía Đông cách đền thờ
khoảng 50m. Mộ quay theo hướng Đông Nam, có thành, quách và được trang trí các
họa tiết, cặp đối chữ Hán. Toàn khu mộ có tường bao quanh, mặt sau và trước có bình
phong được xây kiểu mái đền. Hằng năm, tại đình tổ chức lễ vào ngày 16, 17 tháng 5
(âm lịch) để tưởng nhớ công lao vào ngày mất của Nguyễn Hữu Cảnh và lễ Kỳ yên
vào ngày 10,11 tháng 11 (âm lịch).
Đền thờ, mộ Nguyễn Hữu Cảnh là một trong những di tích tiêu biểu đánh dấu
tiến trình hơn 320 năm hình thành và phát triển của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai. Sự
hiện diện của di tích trong suốt thời gian qua, đã góp phần tô điểm thêm cho vẻ đẹp
vốn có của Cù Lao Phố - nơi từng được mệnh danh là một thương cảng đô hội phồn
vinh lớn nhất Nam bộ vào những thế kỷ trước. Di tích không chỉ là minh chứng lịch