Diem lai mot so dong gop cua danh si Ngo Thi Nham nhan ky niem 275 nam ngay sinh cua ong

Diem lai mot so dong gop cua danh si Ngo Thi Nham nhan ky niem 275 nam ngay sinh cua ong

1 Page 1

▲back to top
Điểm li mt số đóng góp của danh sĩ Ngô Thì Nhậm nhân knim 275 năm ngày
sinh ca ông (25/10/1746 25/10/2021)
Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Ngô Thì Nhậm còn có tên gọi khác là Ngô
Thời Nhiệm tự Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên, là danh sĩ, nhà văn đời Hậu Lê và Tây Sơn,
người có công lớn trong việc giúp triều đình Tây Sơn đánh lui quân Thanh. Ông sinh
ngày 25 tháng 10 năm 1746 tại làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Xuất thân trong một gia đình vọng tộc chốn Bắc Hà, Ngô Thì Nhậm đã bộc tộ tố chất
thông minh ngay từ thuở thiếu thời, đậu kỳ thi Hương năm 1765, đỗ khoa sĩ vọng năm
1768, đỗ thứ năm hàng tiến sĩ đệ tam giác năm 1775, làm quan tới các chức Giám sát
ngự sử, Đốc đồng Kinh Bắc và Thái Nguyên, Hàn lâm Hiệu thảo, Hữu Thị lang bộ Công.
Từ năm 1788, Ngô Thì Nhậm giúp nhà Tây Sơn, được vua Quang Trung trọng dụng,
trao chức Tả Thị lang bộ Lại, Bộ Binh Thượng thư, đảm nhiệm nhiều việc lớn. Ông là
người am tường binh pháp, một nhà chiến lược tài ba. Nhà vua giao cho ông nhiều việc
quan trọng: Ngoại giao, văn hóa, nội trị... Ở vị trí nào ông cũng hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ được giao.
Cuối năm Mậu Thân (1788) do vua Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạn quân Thanh
kéo sang Đại Việt, với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà Lê. Ngô Thì Nhậm đã có kế
lui binh về giữ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình). Cuộc rút quân về Tam
Điệp là một sách lược kiệt xuất nói lên trình độ mưu trí và cực kỳ sáng tạo của Ngô Thì
Nhậm. Sách lược rút lui của Ngô Thì Nhậm đưa ra lúc này hoàn toàn phù hợp với ý của
Quang Trung bởi không những bảo toàn được lực lượng của ta mà còn kích động thêm
tính kiêu căng, khinh địch của Tôn Sĩ Nghị và tạo ra thời cơ, chuẩn bị điều kiện cho
phản công chiến lược quét sạch quân giặc ra khỏi bờ cõi.
Trong vương triều Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm là một văn tài lỗi lạc của đất Bắc Hà,
và vua Quang Trung đã quyết định giao cho ông đặc trách xử lý công việc bang giao với
nhà Thanh. Sau khi đất nước được giải phóng. Quang Trung rút về Phú Xuân để Ngô
Thì Nhậm ở ngoài Bắc và giao cho toàn quyền đảm đương công việc ngoại giao với
nhà Thanh. Ngô Thì Nhậm lại phát huy óc sáng tạo của mình. Trong việc tiếp xúc với
vua quan nhà Thanh cũng như trong việc giao dịch bằng thư từ, Ngô Thì Nhậm vừa
cương quyết, vừa linh hoạt, vừa nêu cao chủ quyền dân tộc, vừa giữ tình hòa hiếu giữa
hai nước. Với tài ngoại giao, Ngô Thì Nhậm đã góp phần quan trọng đặt mối quan hệ
bang giao hòa hiếu giữa Việt Nam và Trung Hoa sau chiến tranh.
Năm 1790, vua Quang Trung giao cho ông giữ chức Binh bộ Thượng thư. Ông
cũng là người chủ trì về các chính sách và giao dịch ngoại giao với nhà Thanh. Ông luôn
làm tốt nhiệm vụ, vừa nêu cao chủ quyền dân tộc, vừa giữ tình hòa hiếu giữa hai nước.
Vua Quang Trung đã khen Ngô Thì Nhậm: Ngòi bút của Ngô Thì Nhậm có sức mạnh
phi thường, ngăn được 20 vạn quân sĩ. Ông đã khôn khéo, bình tĩnh, bền bỉ trên mặt trận
ngoại giao, góp phần dập tắt tham vọng của ngoại bang. Những vấn đề bang giao được
Ngô Thì Nhậm chấp bút, qua các bài “phẩm, trình, biểu”. Những bài này được tập hợp
trong Bang giao hảo thoại, tác phẩm đã cho người đọc thấy được nghệ thuật ngoại giao
tài tình nhưng cũng đầy khí phách của một người yêu nước chân chính. Ngô Thì Nhậm
đã làm chấm dứt ý định trả thù của vua nhà Thanh, đẩy lùi quân lính chín tỉnh vùng biên
giới phía Bắc, thỏa mãn những yêu cầu của đất nước lúc bấy giờ. Ngô Thì Nhậm với vai
trò và vị trí của mình đã trở thành một nhà ngoại giao kiệt xuất, là tấm gương để cho các
nhà ngoại giao thế hệ tiếp theo học hỏi. Đồng thời góp phần cho thế hệ sau nhìn thấy

2 Page 2

▲back to top
được mặt trận ngoại giao của dân tộc Việt Nam thế kỷ XVIII đầy trí tuệ và là niềm tự
hào của dân tộc ta.
Ngô Thì Nhậm là một danh nhân văn hóa của dân tộc. Ông đã có đóng góp lớn
đối với nền văn học nước nhà. Tác phẩm của ông phong phú về nội dung và đa dạng về
thể loại. Ông đã để lại rất nhiều tác phẩm và là cây bút tiêu biểu nhất trong bộ Ngô gia
văn phái với gần 1.000 bài thơ, bài phú cùng bộ sách khảo luận về sử và triết học. Đặc
biệt quý nhất là những tác phẩm văn thơ của ông gắn bó với nhà Tây Sơn dưới thời vua
Quang Trung.
Về thơ, Ngô Thì Nhậm thống nhất với quan niệm của Ngô gia, mà người phát
biểu sớm nhất là cha của ông là Ngô Thì Sĩ, là thơ phải giản dị, thuần phác, đôn hậu,
không hóc hiểm, có phong cách riêng. Ông có một số tập thơ nổi tiếng như: Bút hải tùng
đàm, Thủy vân nhàn đàm (Thủy vân nhàn vịnh), Ngọc đường xuân khiếu, Cúc hoa thi
trận, Thu cận dương ngôn, Cẩm đường nhàn thoại, Hy Doãn công thi văn tập, Hoàng
hoa đồ phả, Sứ trình thi họa, Yên đài thu vịnh.
Về phú, phần nhiều được viết theo lối cổ thể, nhưng lại không còn đậm tính chất
của phú cổ, tụng ca vua chúa mà phần lớn là để biểu đạt bày tỏ những trăn trở ưu tư,
những suy nghĩ về nhiều vấn đề liên quan đến cuộc đời, số phận kẻ sĩ như chính bản
thân tác giả. Ông có 17 bài chép ở tập Kim mã hành dư. Phú Ngô Thì Nhậm thể hiện rõ
nét tính cách phóng khoáng, tình yêu thiên nhiên và quan niệm, triết lý sống của ông,
một người biết đặt lợi ích của đất nước cao hơn hết.
Về văn, Trong số tác phẩm của Ngô Thì Nhậm, phần văn xuôi chiếm một khối
lượng lớn. Ngoài những thể loại quen thuộc như thư, ký, tự, dẫn, bi, văn tế, ông viết
nhiều và cũng thành công nhiều ở loại văn luận thuyết. Ông có một số tác phẩm lớn
như: Hàn các anh hoa, Bang giao hảo thoại, Xuân Thu quản kiến, Kim mã hành dư
đặc biệt, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh được coi là tác phẩm thể hiện nổi bật nhất tư
tưởng triết học của Ngô Thì Nhậm. Bang giao hảo thoại còn là một tư liệu xác thực
hiếm hoi, bổ sung cho chính sử về cuộc đấu tranh ngoại giao của nhà Tây Sơn với nhà
Thanh. Tác phẩm này cũng là một trong những đỉnh cao của văn học bang giao Việt
Nam.
Ngô Thì Nhậm mất năm Quý Hợi (1803), hưởng dương 57 tuổi. Có thể nhận
định, trong khoảng thời gian cống hiến cho triều đình Tây Sơn, hoạt động nổi bật nhất
của ông được thể hiện trong tư tưởng quan hệ bang giao Việt - Thanh. Tài năng ngoại
giao của ông làm nổi bật tư tưởng nhân văn quân sự cao cả, đem lại nhiều thắng lợi trong
sự kết hợp chặt chẽ giữa quân sự với binh, địch vận, với ngoại giao. Ngoài tâm huyết
của một nhà mưu lược quân sự, nhà ngoại giao khéo léo và tự chủ, ông còn có một khối
lượng thơ văn rất lớn, chứa đựng tinh hoa tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật của dân tộc.
Yên Yên