Khởi nghĩa Đô Lương năm 1941 và bài học kinh nghiệm
Khởi nghĩa Đô Lương còn được gọi với các tên Binh biến Rạng Lường, Binh biến
Đô Lương, diễn ra dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của thủ lĩnh Đội Cung, một người có tinh
thần yêu nước, ông đã cùng với hơn 50 anh em binh lính ở chợ Rạng, Đô Lương (Nghệ
An) nổi dậy cướp các đồn vào ngày 13/1/1941.
Theo sử liệu, Đội Cung hay Nguyễn Văn Cung, tên thật là Trần Văn Cung chưa
rõ năm sinh, ông sinh ra ở làng Hạc Oa, Đông Sơn, Thanh Hóa, nay là làng Hạc Oa,
phường Đông Cương, thành phố Thanh Hóa (quê mẹ). Từ nhỏ, do được một người họ
Nguyễn nhận làm con nuôi nên lấy tên là Nguyễn Văn Cung. Khi trưởng thành, ông
tham gia lực lượng lính khố xanh tại Nghệ An và thăng dần lên chức Đội (tương đương
Trung sĩ).
Từ đầu năm 1940, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, phong trào
cách mạng của quần chúng ngày càng lan rộng, ảnh hưởng đến tinh thần binh lính người
Việt trong quân đội Pháp. Tại Nghệ An, binh lính rất bất bình và hoang mang khi thực
dân Pháp có ý định điều một số đội lính khố xanh tại Nghệ An sang chiến đấu tại Lào,
làm bia đỡ đạn cho Pháp trong chiến tranh Pháp - Thái Lan.
Ngày 8 tháng 1 năm 1941, Đội Cung được điều động từ Vinh về đồn Chợ Rạng
(Thanh Chương, Nghệ An) thay cho viên đồn trưởng người Pháp là Alônggiô.
Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 13/1/1941, Nguyễn Văn Cung và binh sĩ đến phủ
Anh Sơn (thị trấn huyện Đô Lương bây giờ). Sau khi cho anh em ăn tối xong, Đội Cung
tập hợp binh sĩ tại sân Chùa. Nội dung và lý do cuộc khởi nghĩa được Đội Cung chuẩn
bị từ trước, ghi vào một tờ giấy để trong túi áo ngực, khi tập hợp đông đủ anh em, ông
mới rút tờ giấy ra đọc, tuyên bố khởi nghĩa và giao nhiệm vụ cho binh sĩ. Theo kế hoạch,
nghĩa binh sẽ giết tên Bạch, đồn trưởng Đô Lương, sau đó lên ô tô kéo về thành Vinh
giết bọn thực dân Pháp, gồm những tay khét tiếng tàn ác, nắm những cương vị chủ chốt
như: Thanh tra, Công sứ, Phó sứ…
Kế hoạch không thành, nghĩa quân không chiếm được trại giám binh vì bị lộ,
thực dân Pháp đã dùng quân đàn áp, nhanh chóng dập tắt cuộc binh biến. Đội Cung, sau
khi vượt thành trốn thoát, ông ẩn náu ở hang núi được gần một tháng. Ngày 11/2/1941,
ông quay lại khu vực ngoại thành để nắm tình hình. Do có kẻ phản bội nên ông và 9
đồng chí bị thực dân Pháp bắt khi vừa vào nhà Tống Gia Liêm, khu vực Cổng Chốt.
Ngày 20/2/1941, Tòa án binh của Pháp ở Hà Nội đã mở phiên toà xét xử 51 người
tham gia cuộc khởi nghĩa, 11 người bị kết án tử hình, 12 án chung thân, 2 án 20 năm tù
khổ sai, 7 án 15 năm tù, 1 án 12 năm tù… Ngày 25/4/1941, thực dân Pháp tiến hành
cuộc hành quyết Đội Cung và 10 đồng chí của ông tại 3 nơi: Vinh, chợ Rạng và Đô
Lương. Phần mộ Đội Cung hiện nay ở phía ngoài cửa Hữu thành Nghệ An cũ. Hiện nay,
tên Đội Cung được đặt cho các con phố ở Hà Nội (quận Hai Bà Trưng), thành phố Vinh,
thành phố Huế, thành phố Thanh Hóa và thành phố Hồ Chí Minh (quận 11).
Mặc dù thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa có ý nghĩa quan trọng, thể hiện tinh thần
đấu tranh giành độc lập dân tộc chống ách cai trị của các chiến sĩ cách mạng, yêu nước,
không chịu làm nô lệ, khổ sai. Có thể nói, sự kiện Binh biến Đô Lương ngày 13/1/1941
đã nêu cao tinh thần bất khuất của người dân Việt Nam chống lại chế độ thực dân.
Theo tư liệu, báo “Cởi ách” của Tỉnh ủy Đảng Cộng sản Đông Dương Nghệ An
ra ngày 20 tháng 2 năm 1941 viết: “Cuộc binh biến chợ Rạng - Đô Lương thất bại nhưng
nó có tác dụng kích thích tinh thần ái quốc của đồng bào ta, làm cho đế quốc Pháp bối
rối, làm cho ai nấy đều hiểu rằng anh em binh lính cùng đi với dân chúng trong Mặt trận