Lê Đức Thọ - Người cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng
Năm 1973, lần đầu tiên, giải Nobel vì Hòa bình được trao tặng cho một người
Việt Nam vì những đóng góp của ông trong quá trình đàm phán, ký kết thành công Hiệp
định Pari. Nhưng, ông đã từ chối giải thưởng này vì hòa bình chưa thực sự lập lại ở
Việt Nam. Không ai khác, đó chính là đồng chí Lê Đức Thọ - Người cộng sản kiên
cường - nhà ngoại giao tài ba của dân tộc Việt Nam ta.
Có tên thật là Phan Đình Khải, (sinh ngày 10/10/1911), đồng chí Lê Đức Thọ
sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà Nho ở vùng ngoại ô thành phố Nam Định thuộc
phủ Thiên Trường xưa, tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc (nay là xã Nam Vân, thành phố
Nam Định, tỉnh Nam Định), nơi phát tích của Vương triều Trần với hào khí Đông A nổi
tiếng trong lịch sử. Sẵn mang trong mình tinh thần yêu nước, truyền thống quật cường
của dân tộc và hoài bão tuổi trẻ, đồng chí đã sớm dấn thân trên con đường cách mạng.
Năm 1925, khi mới 14 tuổi đồng chí đã tích cực hoạt động trong phong trào học
sinh yêu nước. 15 tuổi, tham gia các hoạt động bãi khóa, dự lễ truy điệu nhà chí sĩ yêu
nước Phan Chu Trinh. Đồng chí được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên, được hoạt động và rèn luyện trong tổ chức cách mạng khi mới 17 tuổi, chỉ sau 1
năm, đồng chí được vinh dự kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng, làm Bí thư Chi
bộ học sinh và phụ trách công tác thanh niên học sinh.
Do tích cực tham gia những hoạt động yêu nước và cách mạng, đầu tháng
11/1930, đồng chí bị thực dân Pháp bắt và kết án 10 năm khổ sai và bị đày đi nhà tù Côn
Đảo. Năm 1936, được trả tự do đồng chí trở lại Nam Định, tiếp tục hoạt động cách mạng
và bị mật thám Pháp bắt lại (tháng 9/1939). Đầu năm 1940, đồng chí bị tòa án kết án 5
năm tù, lưu đày tại các nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), Sơn La và Hòa Bình.
Tháng 9/1944 ra tù, đồng chí được điều động về công tác tại khu An toàn của
Trung ương. Tháng 8/1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào, đồng chí được
chỉ định vào Thường vụ Trung ương Đảng cùng ban lãnh đạo của Đảng lãnh đạo toàn
nhân dân tiến hành Cách mạng tháng Tám thành công, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do
của dân tộc.
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tháng 9/1948, trên cương vị Thường vụ Trung
ương Đảng, đồng chí được cử làm Trưởng phái đoàn của Đảng, Chính phủ và quân đội
vào kiểm tra, giúp đỡ cuộc kháng chiến của đồng bào Nam bộ, sau đó đồng chí đã được
phân công ở lại Nam bộ cùng đồng chí Lê Duẩn lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp cho đến ngày thắng lợi.
Hiệp định Giơnevơ được ký kết, sau khi cùng Xứ ủy và đồng chí Lê Duẩn sắp
xếp lại tổ chức chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Tháng 01/1955, đồng chí tập kết ra
Bắc và được phân công làm Trưởng ban Thống nhất Trung ương. Cuối năm đó, đồng
chí được bổ sung vào Bộ Chính trị phụ trách công tác sửa sai trong cuộc vận động cải
cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Từ cuối năm 1956 trở đi, đồng chí phụ trách công
tác xây dựng Đảng và giữ trọng trách này trong một thời gian dài.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, tháng 9/1960, đồng chí được
bầu vào BCH Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, làm Trưởng ban Tổ chức
Trung ương Đảng và giữ cương vị quan trọng này cho đến tháng 12/1986, đồng chí được
Đại hội VI của Đảng tuyên dương công trạng và cử làm Cố vấn BCH Trung ương cùng
với các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng.
Sau đợt 1, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, do yêu cầu của
chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị cử đồng chí làm Phó Bí thư Trung ương Cục để