60 nam Tham hoa Da cam o Viet Nam

60 nam Tham hoa Da cam o Viet Nam

1 Page 1

▲back to top
Kỷ niệm 60 năm Thảm họa Da cam ở Việt Nam (10/8/1961 – 10/8/2021)
Thảm họa Da cam - Nỗi đau không của riêng ai
Ngày 10 tháng 8 hàng năm – Ngày “Vì nạn nhân chất độc da cam Việt Nam”
hay còn gọi là “Thảm họa da cam” là một ngày đặc biệt, ngày mà cả dân tộc Việt Nam
ta cùng hướng về những nạn nhân của “chất độc da cam” và dành cho họ sự quan tâm
và những tình cảm đặc biệt. Họ chính là những nạn nhân của một thảm họa kinh hoàng
đã xảy ra cách đây 60 năm. Thời gian đã qua đi, nhưng những di chứng, hậu quả mà
“Thảm họa da cam” ấy để lại vẫn luôn là nỗi ám ảnh khủng khiếp đối với mỗi người
dân đất Việt nói riêng, nhân loại trên toàn thế giới nói chung.
Chất độc da cam (CĐDC) là một loại chất độc hóa học không màu, không tan
trong nước, tan trong dầu diezel và các dung môi hữu cơ. Loại chất độc này được các
nhà sản xuất để trong các thùng phuy sơn một vạch màu da cam ở giữa để đánh dấu độ
độc của loại hóa chất này, nên được gọi là chất độc da cam. CĐDC là tổng hợp của hai
loại thuốc diệt cỏ 2.4-D và 2,4,5-T. Trong quá trình tổng hợp 2 chất diệt cỏ nói trên,
các nhà sản xuất đã tăng nhiệt lượng để rút ngắn thời gian sản xuất, làm phát sinh thêm
thành phần dioxin. Dioxin là tên gọi chung của một nhóm hàng trăm các hợp chất hóa
học có tên khoa học là 2-3-7-8 tetra chloro dibenzo-dioxin. Dioxin là chất độc mạnh
nhất mà loài người biết được cho đến nay. Do đó, CĐDC/dioxin: Là cụm từ được dùng
để nhấn mạnh độc tính của chất độc da cam.
Từ xưa chất độc đã được sử dụng trong các cuộc chiến tranh. Cùng với sự phát
triển của khoa học và công nghệ, chất độc hóa học đã được chế tạo và sử dụng như
một loại vũ khí để giết người hàng loạt. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914
- 1918), quân đội đồng minh đã sử dụng các chất hóa học làm chảy nước mắt, làm hắt
hơi, các chất gây ngạt thở, các chất gây bỏng, các chất làm liệt thần kinh... để làm mất
sức chiến đấu của lực lượng vũ trang đối phương. Ngày 22/4/1915, quân Đức đã sử
dụng chất độc Clo làm nhiễm độc và làm chết hàng nghìn quân Anh, Pháp; tháng
7/1917, quân Đức lại sử dụng chất Yperites trên chiến trường. Trong Chiến tranh thế
giới lần thứ hai (1939-
1945), quân Nhật đã sử dụng
chất độc Yperite tại Trung
Quốc; quân Đức đã sử dụng
chất Zyklon B đầu độc các tù
nhân ở các trại tập trung…
Trong cuộc chiến tranh
xâm lược Việt Nam, Mỹ không
chỉ dùng các loại bom đạn gây
thương vong mà còn sử dụng cả
chất độc hoá học nhằm triệt hạ
nguồn sinh sống của nhân dân
Việt Nam, ngăn chặn bước tiến
của các lực lượng vũ trang cách
Mỹ đã đổ hơn 75 triệu lít hóa chất xuống Việt
Nam. Ảnh internet
mạng. Năm 1961, Tổng thống
Mỹ J. F. Kennedy đã ký sắc
lệnh cho rải các hóa chất khai
quang – diệt cỏ lên miền Nam Việt Nam. Từ năm 1961 - 1971, quân đội Mỹ đã tiến
hành 19.905 phi vụ, phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học, 61% trong đó là
chất da cam, chứa 366 kg dioxin xuống các cánh rừng, các thôn ấp, các khu đất trồng

2 Page 2

▲back to top
trọt với tổng diện tích 3,06 triệu ha, gần bằng 1/4 tổng diện tích miền Nam Việt Nam,
vượt gấp 17 lần mật độ cho phép sử dụng trong nông nghiệp Mỹ; trong đó có 86%
diện tích bị phun rải hơn 2 lần, 11% diện tích bị phun rải hơn 10 lần.
Chiến tranh hóa học do Mỹ tiến hành ở miền Nam Việt Nam, đã gây hậu quả
chưa từng có trong lịch sử loài người. Với một lượng khổng lồ chất độc hóa học phun
rải lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài khiến môi trường bị ô nhiễm nặng
nề. Rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn trở nên hoang sơ, chết chóc: không một cánh
chim, không một cành lá, không cả tiếng côn trùng. Rừng bị hủy diệt đã tác động lên
28 lưu vực sông miền Trung. Rừng phòng hộ đầu nguồn của 28 hệ sông bị tàn phá,
làm cho lũ lụt, hạn hán nặng nề trên lưu vực các sông: Hương, Thạch Hãn, Hàn, Thu
Bồn, Trà Khúc, Vệ, Cầu, Ba…
Thảm khốc hơn là CĐDC đã làm cho 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm,
hơn 3 triệu người là nạn nhân, gây nên biết bao thảm cảnh mà nhiều thế hệ người Việt
Nam phải hứng chịu. Hàng trăm nghìn nạn nhân đã chết, hàng trăm nghìn người đang
vật lộn với bệnh tật hiểm nghèo. Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam và thế giới cho
thấy, chất độc da cam/dioxin có khả năng gây tổn thương đa dạng và phức tạp trên tất
cả các bộ máy sinh lý của cơ thể, gây ung thư da, tổn thương da, gan, tuyến giáp, đái
tháo đường; làm tổn thương hệ thống hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, nội tiết, thần kinh;
có vai trò quan trọng gây đột biến gen và nhiễm sắc thể, từ đó gây nên các dị tật bẩm
sinh, các tai biến sinh sản. Các bệnh phổ biến ở con, cháu nạn nhân là liệt hoàn toàn
hay một phần cơ thể, mù, câm, điếc, thiểu năng trí tuệ, tâm thần, ung thư, dị dạng, dị
tật bẩm sinh. Đau xót hơn là hậu quả đó có thể di truyền qua nhiều thế hệ và ở Việt
Nam, di chứng “da cam” đã truyền sang thế hệ thứ 4.
Không chỉ người Việt Nam mà nhiều lính Mỹ, Hàn Quốc, Australia, New
Zealand… từng tham chiến ở Việt Nam trước đây cũng mắc nhiều bệnh tật do phơi
nhiễm CĐDC. Có ít nhất 2.100 binh sĩ Mỹ bị phơi nhiễm CĐDC; có khoảng 100
nghìn/300 nghìn lượt binh sĩ Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam là nạn nhân, trong đó
hơn 20 nghìn người đã chết.
Ngày 10/01/2004, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam (VAVA)
chính thức được thành lập nhằm giúp đỡ và bảo vệ quyền lợi cho những nạn nhân
CĐDC, góp phần khắc phục hậu quả chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến
tranh ở Việt Nam. Ngày 25/6/2004, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã quyết định lấy
ngày 10/8 hàng năm là ngày “Vì nạn nhân chất độc da cam Việt Nam”.
Trước những hậu quả nặng nề của di chứng chiến tranh để lại, trong những năm
qua, đã có rất nhiều vụ kiện lên tòa án Mỹ liên quan đến tác hại của chất độc màu da
cam và hậu quả mà nó để lại sau chiến tranh Việt Nam, tuy nhiên những người Việt
Nam chịu ảnh hưởng của CĐDC vẫn chưa nhận được sự bồi thường mà họ đáng được
nhận. Đầu năm 2009, Tòa án công luận quốc tế ủng hộ các nạn nhân chất độc da cam
Việt Nam đã được triệu tập tại Paris. Tòa án đã kết án chính phủ Mỹ và các công ty
hóa chất, yêu cầu chính phủ chịu trách nhiệm cho những việc làm đã qua, cả về
phương diện pháp lý lẫn đạo lý. 60 năm sau thảm họa da cam, mặc dù Chính phủ Mỹ
đã từng bước tham gia khắc phục hậu quả chất độc da cam - dioxin tại Việt Nam, song
đến nay về mặt pháp lý họ vẫn chưa thừa nhận trách nhiệm gây ra hậu quả đó. Nhân
loại yêu chuộng hòa bình và những người có lương tri vẫn tiếp tục giúp đỡ các nạn
nhân nhiễm chất độc da cam vì mục tiêu đem lại công lý cho các nạn nhân và ngăn
chặn việc sử dụng vũ khí hóa học.
Trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính
sách, chế độ đối với người có công với cách mạng, trong đó có người hoạt động kháng

3 Page 3

▲back to top
chiến và con đẻ của họ bị nhiễm CĐDC do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều chỉ đạo hoạt động khoa học và nỗ
lực hợp tác nghiên cứu tẩy độc, khắc phục ô nhiễm CĐDC/dioxin tại các khu vực có
nguy cơ tiềm ẩn gây tác hại đến môi trường, sinh thái và con người; trong đó có các
điểm ô nhiễm nặng đã được xác định ưu tiên xử lý là sân bay Đà Nẵng, sân bay Biên
Hòa (Đồng Nai), sân bay Phù Cát (Bình Định) và sân bay A So (Thừa Thiên- Huế).
Nỗi đau da cam không là nỗi đau của riêng ai. Đó là nỗi đau của cả dân tộc, của
nhân loại tiến bộ. Dù chiến tranh qua đi nhưng hàng triệu người Việt Nam và những
thế hệ sau vẫn đang phải gánh chịu hậu quả của loại chất độc nguy hiểm này. Thiết
nghĩ, chung tay xoa dịu nỗi đau da cam không chỉ là vấn đề từ thiện, nhân đạo, mà
trước hết là hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” đối với những người có công với nước, thể
hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, nêu cao tinh thần “Tương thân tương ái” của dân
tộc, đồng thời cũng là lương tâm và trách nhiệm của mỗi người Việt Nam.
Nhân kỷ niệm 60 năm Ngày “Vì nạn nhân chất độc da cam”, xin được ôn lại
lịch sử, nhằm tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng
đồng xã hội về vấn đề “Thảm họa da cam”; tăng cường vận động các nguồn lực xã hội
chăm sóc, giúp đỡ những nạn nhân chất độc da cam; khích lệ các cấp, các ngành, cộng
đồng xã hội nhất là thế hệ trẻ hôm nay thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, góp
phần động viên, khích lệ các nạn nhân và thân nhân của họ vượt qua nỗi đau bệnh tật,
lạc quan hơn trong cuộc sống./.
Đinh Nhài