Tran Bach Dang II tran thuy chien lam nen nhung trang su hao hung

Tran Bach Dang II tran thuy chien lam nen nhung trang su hao hung

1 Page 1

▲back to top
Trận Bạch Đằng II (28/4/981) - trận thủy chiến làm nên những trang sử hào hùng
trên sông Bạch Đằng
Là một không gian không quá rộng lớn nhưng vùng cửa sông Bạch Đằng chảy
qua địa phận Hải Phòng lại là một địa danh đặc biệt, bởi nó gắn liền với 3 trận thủy
chiến, trong đó có trận Bạch Đằng năm 981 buộc Đại Tống chấp nhận xuống nước và
chính thức thừa nhận Lê Đại Hành cai trị Đại Cồ Việt.
Năm 944, Ngô Quyền mất, lợi dụng sự suy yếu của triều đình trung ương, thế
lực cát cứ ở các địa phương nổi dậy, mỗi người hùng cứ một phương gây ra nổi loạn
mười hai sứ quân. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua, xưng là Đinh Tiên Hoàng,
đống đô ở Hoa Lư, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đặt tên niên hiệu là Thái Bình, tổ chức
triều đình theo kiểu phong kiến tập quyền, xây dựng quân đội theo hệ thống đạo, quân,
lữ, tốt, ngũ, mỗi bậc từ dưới lên trên đều gấp 10 lần. Cuối năm 979, Đinh Tiên Hoàng
và thế tử Đinh Liễn bị ám sát, con thứ Đinh Toàn mới 5 tuổi lên nối ngôi, triều đình
nhà Đinh suy yếu. Nhân cơ hội này, nhà Tống ráo riết tập trung binh lực chuẩn bị xâm
lược nước ta.
Ngày 19/8/980, vua Tống chiếu điều tướng, chỉnh quân chuẩn bị xâm lược Đại
Cồ Việt. Nhà Tống chủ trương lấy ngay quân có sẵn ở Ung, Quảng, vốn liền kề biên
giới Việt – Tống phái đi trước. Cánh quân thủy do Hầu Nhân Bảo chỉ huy từ Khâm
Châu, theo đường biển tiến vào Lãng Sơn (Quảng Ninh), qua cửa Bạch Đằng, rồi theo
sông Kinh Thầy ngược lên sông Lục Đầu. Cánh quân bộ do Tôn Toàn Hưng chỉ huy từ
Ung Châu, qua Quỷ Môn Quan vào châu Tô Mậu, đến Đông Triều, Chí Linh mà tiến
sâu vào nội địa nước ta. Hai cánh quân này xuất phát gần như đồng thời với nhau, và
theo kế hoạch hợp điểm, chúng sẽ gặp nhau ở Hoa Bộ (Thủy Nguyên, Hải Phòng), rồi
Đại La, cuối cùng hợp sức đánh chiếm Hoa Lư.
Trước nguy cơ ngoại xâm đang đến gần, triều đình và các tướng lĩnh đã suy tôn
Lê Hoàn làm vua (tức vua Lê Đại Hành) để lãnh đạo quân dân Đại Cồ Việt chuẩn bị
kháng chiến. Sau khi ổn định tình hình nội bộ, một mặt Lê Hoàn huy động quân sĩ và
nhân dân khẩn trương chuẩn bị chống giặc. Mặt khác, ông tìm kế hoãn binh để củng cố
thêm lực lượng kháng chiến. Ngày 10/12/980, Lê Hoàn sai Giang Cự Vọng và Vương
Thiệu Tộ mang cống vật và chiếu thư giả là của Đinh Toàn xin phong vương. Nhưng
lúc bấy giờ quân Tống đang trên đường tiến sang nước ta nên nước Tống cự tuyệt cho
rằng bên ta muốn hoãn binh. Trước tình thế ấy, Lê Hoàn chủ động bày sẵn thế trận phá
giặc. Lê Hoàn cho xây dựng trận địa kiên cố ở Bình Lỗ nhằm chặn cánh quân lớn do
Hầu Nhân Bảo chỉ huy từ hướng Cao Bằng, Thái Nguyên xuống. Ông cử Phạm Cự
Lạng và nhiều tướng lĩnh khác trấn giữ các nơi hiểm yếu. Ông trực tiếp làm tướng dẫn
đại quan từ kinh thành Hoa Lư theo đường thủy, ngược sông Đáy, sông Nhuệ vào sông
Hồng, từ đó tiến lên miền địa đầu Đông Bắc đất nước, sẵn sàng đón đánh các đọa quân
Tống trần sang. Trên hướng Lạng Sơn – Bắc Ninh, ông cũng cho quân chủ lực phối
hợp với dân binh chuẩn bị chặn đánh địch. Hướng đông bắc, nhận rõ vị trí quan trọng

2 Page 2

▲back to top
của sông Bạch Đằng, ông bố trí trận địa cọc ngầm ở cửa sông để chặn đánh đoàn thủy
quân Tống tương tự như trận địa cọc của Ngô Quyền năm 938.
Ngày 24/1/981, cánh quân thủy do Hầu Nhân Bảo chỉ huy ồ ạt tiến vào cửa
Bạch Đằng. Lúc đó, các đạo quân của thủy bộ của ta nhất loạt xông ra chặn đánh quyết
liệt. Đoàn binh thuyền của địch lúng túng, vất vả chống đỡ các đợt tấn công của ta.
Nhưng quân Tống đông, quân ta bất lợi, 200 thuyền chiến đấu bị địch chiếm mất. Mặc
dù bị tổn thất trong trận đầu nhưng quân ta vẫn quyết tâm chiến đấu. Trên trục đường
bộ từ Ung Châu kéo sang, cánh quân do Tôn Toàn Hưng chỉ huy bị quân chủ lực cùng
với dân binh địa phương liên tục chặn đánh, khiến cho chúng gặp khó khăn, ngày
30/1/981 mới đến được Hoa Bộ, gần kề sông Bạch Đằng. Sau hơn 2 tháng chiếm Bạch
Đằng – Hoa Bộ, cả 2 cánh quân Tống vẫn dậm chân tại chỗ. Chúng liên tục bị quân
chủ lực và dân binh các làng xã tập kích quấy rối, làm cho lực lượng bị tiêu hao, tinh
thần binh lính suy giảm.
Lê Hoàn một mặt viết thư giả xin hàng khiến cho bọn Hầu Nhân Bảo và Tôn
Toàn Hưng tưởng thật mà chủ quan, lơ là việc phòng bị. Mặt khác ông bí mật tăng
cường lực lượng chuẩn bị một trận quyết chiến giáng đòn quyết định. Ông chọn một
khúc sông hiểm yếu rồi bố trí quân mai phục chờ sẵn. Ngày 28/4/981, trận quyết chiến
trên sông Bạch Đằng diễn ra, Lê Đại Hành đã cho một cánh quân ra khiêu chiến với
quân địch, Hầu Nhân Bảo trúng kế đuổi theo và lọt vào trận địa mai phục. Lúc này,
các chiến binh Đại Cồ Việt từ khắp các nẻo đường đổ về sông Bạch Đằng vây đánh
quân Tống quyết liệt. Hầu Nhân Bảo bị giết chết. Nghe tin thuỷ quân thua trận, các
cánh quân khác vội vã tháo chạy, bị quân Đại Cồ Việt truy kích tiêu diệt quá nửa, quân
Tống bị quét sạch khỏi bờ cõi nước ta. Đại thắng Bạch Đằng năm 981 khiến nhà Tống
phải kính nể tài năng và bản lĩnh của Lê Đại Hành, xuống nước công nhận ông là vua
của Đại Cồ Việt.
Chiến thắng của quân ta vào mùa xuân năm 981, đỉnh cao là chiến thắng Bạch
Đằng (24/8/981) đã giáng đòn quyết định làm sụp đổ hoàn toàn tinh thần và ý chí xâm
lược của triều đình Tống. Đại Cồ Việt sau chiến thắng này đã giữ được độc lập suốt cả
triều Tiền Lê. Chiến công của Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân quân khai sinh ra
nước Đại Cồ Việt cùng với chiến thắng trong kháng chiến chống Tống do Lê Hoàn
lãnh đạo, đã khẳng định chủ quyền quốc gia, tạo điều kiện cho đất nước bước vào kỷ
nguyên văn minh Đại Việt dưới các vương triều Lý, Trần, Hồ và Lê Sơ. Giai đoạn này
đã khẳng định sự phát triển của binh chế và kế sách giữ nước. Một tổ chức quân sự với
nhiều thứ quân ra đời. Tư tưởng và nghệ thuật quân sự đã đạt đến một đỉnh cao chói
lọi, thể hiện trí tuệ, tài năng quân sự của dân tộc ta.
Yên Yên