Trận Bạch Đằng II (28/4/981) - trận thủy chiến làm nên những trang sử hào hùng
trên sông Bạch Đằng
Là một không gian không quá rộng lớn nhưng vùng cửa sông Bạch Đằng chảy
qua địa phận Hải Phòng lại là một địa danh đặc biệt, bởi nó gắn liền với 3 trận thủy
chiến, trong đó có trận Bạch Đằng năm 981 buộc Đại Tống chấp nhận xuống nước và
chính thức thừa nhận Lê Đại Hành cai trị Đại Cồ Việt.
Năm 944, Ngô Quyền mất, lợi dụng sự suy yếu của triều đình trung ương, thế
lực cát cứ ở các địa phương nổi dậy, mỗi người hùng cứ một phương gây ra nổi loạn
mười hai sứ quân. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua, xưng là Đinh Tiên Hoàng,
đống đô ở Hoa Lư, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đặt tên niên hiệu là Thái Bình, tổ chức
triều đình theo kiểu phong kiến tập quyền, xây dựng quân đội theo hệ thống đạo, quân,
lữ, tốt, ngũ, mỗi bậc từ dưới lên trên đều gấp 10 lần. Cuối năm 979, Đinh Tiên Hoàng
và thế tử Đinh Liễn bị ám sát, con thứ Đinh Toàn mới 5 tuổi lên nối ngôi, triều đình
nhà Đinh suy yếu. Nhân cơ hội này, nhà Tống ráo riết tập trung binh lực chuẩn bị xâm
lược nước ta.
Ngày 19/8/980, vua Tống chiếu điều tướng, chỉnh quân chuẩn bị xâm lược Đại
Cồ Việt. Nhà Tống chủ trương lấy ngay quân có sẵn ở Ung, Quảng, vốn liền kề biên
giới Việt – Tống phái đi trước. Cánh quân thủy do Hầu Nhân Bảo chỉ huy từ Khâm
Châu, theo đường biển tiến vào Lãng Sơn (Quảng Ninh), qua cửa Bạch Đằng, rồi theo
sông Kinh Thầy ngược lên sông Lục Đầu. Cánh quân bộ do Tôn Toàn Hưng chỉ huy từ
Ung Châu, qua Quỷ Môn Quan vào châu Tô Mậu, đến Đông Triều, Chí Linh mà tiến
sâu vào nội địa nước ta. Hai cánh quân này xuất phát gần như đồng thời với nhau, và
theo kế hoạch hợp điểm, chúng sẽ gặp nhau ở Hoa Bộ (Thủy Nguyên, Hải Phòng), rồi
Đại La, cuối cùng hợp sức đánh chiếm Hoa Lư.
Trước nguy cơ ngoại xâm đang đến gần, triều đình và các tướng lĩnh đã suy tôn
Lê Hoàn làm vua (tức vua Lê Đại Hành) để lãnh đạo quân dân Đại Cồ Việt chuẩn bị
kháng chiến. Sau khi ổn định tình hình nội bộ, một mặt Lê Hoàn huy động quân sĩ và
nhân dân khẩn trương chuẩn bị chống giặc. Mặt khác, ông tìm kế hoãn binh để củng cố
thêm lực lượng kháng chiến. Ngày 10/12/980, Lê Hoàn sai Giang Cự Vọng và Vương
Thiệu Tộ mang cống vật và chiếu thư giả là của Đinh Toàn xin phong vương. Nhưng
lúc bấy giờ quân Tống đang trên đường tiến sang nước ta nên nước Tống cự tuyệt cho
rằng bên ta muốn hoãn binh. Trước tình thế ấy, Lê Hoàn chủ động bày sẵn thế trận phá
giặc. Lê Hoàn cho xây dựng trận địa kiên cố ở Bình Lỗ nhằm chặn cánh quân lớn do
Hầu Nhân Bảo chỉ huy từ hướng Cao Bằng, Thái Nguyên xuống. Ông cử Phạm Cự
Lạng và nhiều tướng lĩnh khác trấn giữ các nơi hiểm yếu. Ông trực tiếp làm tướng dẫn
đại quan từ kinh thành Hoa Lư theo đường thủy, ngược sông Đáy, sông Nhuệ vào sông
Hồng, từ đó tiến lên miền địa đầu Đông Bắc đất nước, sẵn sàng đón đánh các đọa quân
Tống trần sang. Trên hướng Lạng Sơn – Bắc Ninh, ông cũng cho quân chủ lực phối
hợp với dân binh chuẩn bị chặn đánh địch. Hướng đông bắc, nhận rõ vị trí quan trọng