cực chống càn, ra sức tiêu diệt sinh lực địch, chiến tranh du kích đã góp phần quan
trọng vào việc giữ vững và củng cố các vùng giải phóng, đập tan âm mưu của địch
hòng lấn át, giành dân, lập hành lang an toàn cho hệ thống căn cứ đồn bốt. Dồn lực
lượng lên phía trước, quân du kích đã siết chặt các căn cứ của quân Mỹ và đồn bốt của
quân ngụy, đánh liên tục uy hiếp mạnh mẽ các tuyến phòng ngự của địch. Chiến tranh
du kích phát triển mạnh trong các vùng bị địch tạm kiểm soát, phối hợp chặt chẽ với
phong trào đấu tranh chính trị, hỗ trợ đắc lực cho các cuộc khởi nghĩa của nhân dân,
phá tan nhiều ấp chiến lược giải phóng thêm nhiều vùng đất đai.
Với tinh thần chủ động, tích cực tiến công tiêu diệt địch, quân giải phóng vẫn ra
sức tạo thời cơ đánh tiêu diệt lớn, dồn địch vào thế bị động, lúng túng hơn nữa. Quân
giải phóng không những khôn khéo điều địch ra ngoài công sự để đánh tiêu diệt lớn,
mà còn táo bạo xông vào đánh tiêu diệt lớn trong công sự như: trận tập kích ở Đồng
Dù (Củ Chi) hay trận tập kích lớn rất táo bạo và mưu trí vào Cẩm Bình. Quân giải
phóng tiếp tục đánh lớn không chỉ ở chiến trường rừng núi mà cả đồng bằng và cả
những vùng địch vẫn đinh ninh không hề đánh lớn được như Trị-Thiên. Hầu hết các
binh chủng từ kỵ binh, đến lính thủy đánh bộ, lính dù đều nhừ đòn. Đánh cho lục quân
Mỹ tơi bời, quân và dân miền Nam còn giáng nhiều đòn đích đáng vào không quân
Mỹ. Các sân bay lớn có tầm quan trọng chiến lược của địch như Tân Sơn Nhất, Chu
Lai, Đà Nẵng… đều bị đánh.
Giặc Mỹ bị thua đậm, ngay cả kế hoạch “bình định” quy mô của chúng cũng
không thực hiện được. Để thực hiện âm mưu bình định, chúng đã áp dụng mọi thủ
đoạn mị dân thâm độc, cùng với những hành động tàn bạo đẫm máu như ném bom,
bắn đại bác liên tục, rải chất độc hóa học, mở những cuộc hành binh lớn vào các vùng
giải phóng, đốt sạch, cướp sạch, giết sạch, với mục đích để làm nản lòng quân ta. Với
tinh thân kiên quyết và anh dũng đấu tranh, quân và dân miền Nam ra sức xây dựng
vùng giải phóng quyết giữ làm vùng hậu phương cho cuộc kháng chiến, đập tan mọi
âm mưu “bình định” của giặc.
Tính trong năm 1966, quân và dân ở miền Nam đã đánh gần 40.000 trận lớn
nhỏ, giết chết, làm bị thương và bắt sống 268.200 tên địch. Số đơn vị bị tiêu diệt gọn
gồm có 47 tiểu đoàn, 306 đại đội, 454 trung đội. Số quân Mỹ diệt trong năm 1966
nhiều hơn gấp 5 lần so với số quân Mỹ bị diệt trong năm 1965. Ngoài ra quân ta còn
bắn rơi và phá hủy 2.130 máy bay, diệt 3.300 xe quân sự các loại, bắn chìm 97 tàu và
xuồng chiến, phá hủy 43 đầu máy xe lửa và 217 toa, phá 742 cầu, cống, diệt và bức rút
4 chi khu quân sự, 174 đồn bốt, 140 tháp canh. Chiến thắng vẻ vang của quân và dân
miền Nam trong năm 1966 hòa nhịp với chiến thắng của quân và dân miền Bắc bắn rơi
1.600 máy bay Mỹ đã giáng cho giặc Mỹ những đòn thất bại ngày càng nặng trong
toàn bộ âm mưu xâm lược của chúng.
Thắng lợi rực rỡ của quân và dân ta ở miền Nam là thắng lợi của đường lối
chính trị và chiến lược quân sự đúng đắn của ta, thắng lợi của nghệ thuật chỉ đạo chiến
tranh nhân dân Việt Nam, của nghệ thuật quân sự độc đáo và sáng tạo. Nó là kết quả
của quyết tâm chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, của tinh thần chiến đấu dũng cảm và
đầu óc mưu trí của toàn quân và toàn dân ta. Quân và dân miền Nam đang trưởng
thành nhanh chóng về mọi mặt, càng đánh càng mạnh, càng mạnh lại càng thắng lớn.
Yên Yên