100 nam ngay sinh Thuong tuong Vu Lang

100 nam ngay sinh Thuong tuong Vu Lang

1 Page 1

▲back to top
Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Thượng tướng Vũ Lăng (04/8/1921 - 04/8/2021)
Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc kéo dài suốt ba
mươi năm, từ kháng chiến chín năm chống Pháp đến hai mươi mốt năm chống Mỹ, dân
tộc ta đã ghi một dấu ấn vàng son chói lọi nhất trong lịch đất nước. Trong chiều dài lịch
sử ấy, nhân dân và quân đội Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng rất tự hào
vì đã sinh ra những vị tưỡng lĩnh có tài, có
đức. Trong số đó có Thượng tướng Vũ
Lăng. Một con người có tuổi thơ vui ít,
buồn nhiều, cuộc sống cơ cực đã trở thành
người chỉ huy, một tướng lĩnh có nhiều
chiến công oanh liệt.
Vũ Lăng sinh ngày 4 tháng 8 năm
1921, tại xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì,
Hà Nội. Ông có một tuổi thơ tủi cực và đau
buồn. Mẹ ông là người phụ nữ dịu dàng,
khéo léo, không bao giờ to tiếng với chồng,
thường dạy con phải ngoan ngoãn và có
hiếu với cha mẹ. Cha ông là thợ vẽ mẫu
thêu giỏi, thường vẽ mẫu thêu cho các cửa
hiệu ở Bắc Ninh, Hà Nội nên cũng kiếm
được nhiều tiền. Nhưng rồi có tiền sinh tật,
bố ông ăn chơi tiêu tiền hoang phí đến khi
sa sút phá sản, khi hết tiền về đánh vợ chửi
con. Mẹ ông quá uất ức buồn rầu, đau ốm
mà chết. Vì thế từ nhỏ ông rất thương mẹ
và ghét thói hư tật xấu của bố. Mẹ ông mất khi ông mới bảy tuổi, bố đi làm thuê cho bác
ruột, Vũ Lăng nay đây mai đó, lúc ở bên nội, lúc ở bên ngoại. Có thời gian đi lang thang
mấy năm trời. Cuộc sống chật vật khiến Vũ Lăng khi ấy rất chán đời, ông oán xã hội,
oán người cha không tròn trách nhiệm với vợ con và cũng thấm thía cảnh người dân mất
nước.
Để kiếm sống, ông phải làm đủ nghề ở bất kỳ đâu, làm thư ký dây thép ở Lào
Cai, dạy tư, làm y tá ở bệnh viện Phủ Lý. Khi phong trào Việt Minh nổi lên ở Phủ Lý,
ông tham gia Việt Minh. Sau ngày 9/3/1945, Việt Minh tổ chức phá kho thóc để cứu
đói, gây dựng phong trào chuẩn bị tổng khởi nghĩa, ông được cử đi học Trường Quân
chính khóa V (sau đổi tên thành Trường Huấn luyện Cán bộ Việt Nam). Tháng 11/1945,
theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Vũ Lăng tham gia đoàn quân Nam tiến, vào
Nam Trung Bộ chiến đấu, được cử làm chỉ đạo viên trung đội, sau đó làm phó ban huấn
luyện Khu 6, rồi làm phó ủy viên quân sự Ninh Hòa. Tháng 6/1946, ông ra Bắc được cử
làm đại đội phó bảo vệ Bắc Bộ Phủ (Hà Nội). Trên cương vị mới, ông luôn gương mẫu,
lãnh đạo đơn vị một lòng kiên trung với sự nghiệp cách mạng. Ngày 19/12/1946, cuộc
kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông cùng đồng đội đã chiến đấu quyết liệt bảo vệ Bắc
Bộ Phủ. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Hà Nội, ông đã có nhiều thành tích và được kết
nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) tháng 2 năm
1947.
Từ năm 1947 đến năm 1954, ông tham gia các chiến dịch: Việt Bắc, Sông Thao,
Biên Giới, Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hà – Nam – Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng

2 Page 2

▲back to top
Lào, Điện Biên Phủ. Trên chiến trường, ở nhiều cương vị khác nhau, ông cùng tập thể
lãnh đạo, xây dựng đơn vị ngày càng lớn mạnh và chỉ huy bộ đội chiến đấu dũng cảm,
lập nhiều chiến công xuất sắc. Trong chiến dịch Việt Bắc năm 1947, Đội trưởng Vũ
Lăng cùng đại đội dũng cảm tìm địch mà đánh. Trong vòng 12 ngày, bộ đội Vũ Lăng đã
đánh quân Bô-Phrê bảy trận, làm cho địch suy yếu dần. Trong chiến dịch Điên Biên
Phủ, trên cương vị là Trung đoàn trưởng, ông là người chỉ huy kiên quyết, rất có kỹ
thuật và cũng rất tình cảm. Ông luôn để ấn tượng tốt đẹp với đồng đội, một người chỉ
huy sâu sát, kiên quyết, tạo mọi điều kiện cho cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ và rất
thương yêu cán bộ chiến sỹ. Tinh thần năng động, sáng tạo trong hoạch định kế hoạch
tác chiến của chỉ huy Vũ Lăng đã góp phần vào thắng lợi của nhiều chiến dịch quan
trọng.
Sau kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đầu năm 1956, ông được Đảng
và Nhà nước cử đi học ở Học viện Bộ Tổng Tham mưu (Liên Xô). Ông cùng đồng đội
đã hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập. Cuối năm 1959, ông về Việt Nam. Từ năm 1960 –
1964, ông là Cục phó Cục Nghiên cứu khoa học quân sự (Bộ Tổng Tham mưu). Trong
thời kỳ này, quân đội ta tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu học thuật quân sự và diễn tập
thực nghiệm bằng thực binh. Đồng chí Vũ Lăng thường giữ vai trò chủ trì trong việc đề
xuất các vấn đề nghiên cứu, tổ chức thực hiện các cuộc thảo luận, lý luận và diễn tập
thực nghiệm. Ông đã góp phần công sức không nhỏ cho kết quả của các cuộc nghiên
cứu và thực nghiệm đó. Trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước (1965-1967), ông được Bộ Quốc phòng điều động vào làm Phó Tư lệnh quân
khu 4. Ông cùng tập thể Bộ Tư lệnh quân khu xây dựng phương án tác chiến, đẩy mạnh
các hoạt động chiến đấu, đánh thắng máy bay và tàu chiến Mỹ.
Cuối năm 1967, ông được Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng tin
cậy giao trọng trách làm Cục phó Cục tác chiến. Năm 1971, là Phó tư lệnh Mặt trận
đường 9 rồi Cục trưởng Cục tác chiến. Đặc biệt trên cương vị Tư lệnh Mặt trận Tây
Nguyên và trên cương vị Tư lệnh quân đoàn 3 (1975), ông đã góp công sức rất to lớn
trong việc giải phóng Tây Nguyên và chỉ huy quân đoàn tham gia chiến dịch Hồ Chí
Minh lịch sử, trong đó có sư đoàn 10 đánh thọc sâu chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, bộ
tổng tham mưu ngụy, góp phần quan trọng giải phóng Sài Gòn và giải phóng hoàn toàn
miền Nam, thống nhất đất nước. Sau giải phóng miền Nam năm 1976, ông trở về làm
Viện trưởng Học viện Quân sự Đà Lạt. Ông cùng Đảng ủy và Ban Giám hiệu Học viện
lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng Học viện đi vào nề nếp và ngày càng vững mạnh về mọi
mặt. Trên cương vị là Giám đốc Học viện Lục quân, ông đã đem hết khả năng, trí tuệ
của mình cùng Ban Giám đốc Học viện triển khai nghiên cứu thành công nhiều công
trình, đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ Quốc phòng có tác dụng thiết thực xây dựng quân
đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trên cơ sở những đóng góp to lớn đối với
sự nghiệp xây dựng quân đội, ông đã được Quốc hội và Chính phủ lần lượt phong quân
hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986), và được tặng nhiều
huân chương cao quý khác.
Đầu năm 1988, Thượng tướng Vũ lăng lâm bệnh, sang Liên Xô chạy chữa nhưng
không qua khỏi. Ngày 23/10/1988 ông mất. Thượng tướng Vũ Lăng là một trong những
vị tướng tài của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hơn bốn mươi năm liên tục chiến đấu và
công tác trong quân đội, trên nhiều cương vị khác nhau, Thượng tướng Vũ Lăng đã thể
hiện phẩm chất cao quý của người đảng viên cộng sản, người cán bộ quân đội cách
mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, dũng cảm trong chiến đấu, tận tụy
trong công tác. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là tấm gương sáng về tinh thần trách

3 Page 3

▲back to top
nhiệm, ý thức đoàn kết, phẩm chất thẳng thắn, cương trực, chí công vô tư của người
đảng viên cộng sản, Bộ đội Cụ Hồ, người thủ trưởng trong quân đội.
Yên Yên