Lào, Điện Biên Phủ. Trên chiến trường, ở nhiều cương vị khác nhau, ông cùng tập thể
lãnh đạo, xây dựng đơn vị ngày càng lớn mạnh và chỉ huy bộ đội chiến đấu dũng cảm,
lập nhiều chiến công xuất sắc. Trong chiến dịch Việt Bắc năm 1947, Đội trưởng Vũ
Lăng cùng đại đội dũng cảm tìm địch mà đánh. Trong vòng 12 ngày, bộ đội Vũ Lăng đã
đánh quân Bô-Phrê bảy trận, làm cho địch suy yếu dần. Trong chiến dịch Điên Biên
Phủ, trên cương vị là Trung đoàn trưởng, ông là người chỉ huy kiên quyết, rất có kỹ
thuật và cũng rất tình cảm. Ông luôn để ấn tượng tốt đẹp với đồng đội, một người chỉ
huy sâu sát, kiên quyết, tạo mọi điều kiện cho cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ và rất
thương yêu cán bộ chiến sỹ. Tinh thần năng động, sáng tạo trong hoạch định kế hoạch
tác chiến của chỉ huy Vũ Lăng đã góp phần vào thắng lợi của nhiều chiến dịch quan
trọng.
Sau kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đầu năm 1956, ông được Đảng
và Nhà nước cử đi học ở Học viện Bộ Tổng Tham mưu (Liên Xô). Ông cùng đồng đội
đã hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập. Cuối năm 1959, ông về Việt Nam. Từ năm 1960 –
1964, ông là Cục phó Cục Nghiên cứu khoa học quân sự (Bộ Tổng Tham mưu). Trong
thời kỳ này, quân đội ta tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu học thuật quân sự và diễn tập
thực nghiệm bằng thực binh. Đồng chí Vũ Lăng thường giữ vai trò chủ trì trong việc đề
xuất các vấn đề nghiên cứu, tổ chức thực hiện các cuộc thảo luận, lý luận và diễn tập
thực nghiệm. Ông đã góp phần công sức không nhỏ cho kết quả của các cuộc nghiên
cứu và thực nghiệm đó. Trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước (1965-1967), ông được Bộ Quốc phòng điều động vào làm Phó Tư lệnh quân
khu 4. Ông cùng tập thể Bộ Tư lệnh quân khu xây dựng phương án tác chiến, đẩy mạnh
các hoạt động chiến đấu, đánh thắng máy bay và tàu chiến Mỹ.
Cuối năm 1967, ông được Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng tin
cậy giao trọng trách làm Cục phó Cục tác chiến. Năm 1971, là Phó tư lệnh Mặt trận
đường 9 rồi Cục trưởng Cục tác chiến. Đặc biệt trên cương vị Tư lệnh Mặt trận Tây
Nguyên và trên cương vị Tư lệnh quân đoàn 3 (1975), ông đã góp công sức rất to lớn
trong việc giải phóng Tây Nguyên và chỉ huy quân đoàn tham gia chiến dịch Hồ Chí
Minh lịch sử, trong đó có sư đoàn 10 đánh thọc sâu chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, bộ
tổng tham mưu ngụy, góp phần quan trọng giải phóng Sài Gòn và giải phóng hoàn toàn
miền Nam, thống nhất đất nước. Sau giải phóng miền Nam năm 1976, ông trở về làm
Viện trưởng Học viện Quân sự Đà Lạt. Ông cùng Đảng ủy và Ban Giám hiệu Học viện
lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng Học viện đi vào nề nếp và ngày càng vững mạnh về mọi
mặt. Trên cương vị là Giám đốc Học viện Lục quân, ông đã đem hết khả năng, trí tuệ
của mình cùng Ban Giám đốc Học viện triển khai nghiên cứu thành công nhiều công
trình, đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ Quốc phòng có tác dụng thiết thực xây dựng quân
đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trên cơ sở những đóng góp to lớn đối với
sự nghiệp xây dựng quân đội, ông đã được Quốc hội và Chính phủ lần lượt phong quân
hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986), và được tặng nhiều
huân chương cao quý khác.
Đầu năm 1988, Thượng tướng Vũ lăng lâm bệnh, sang Liên Xô chạy chữa nhưng
không qua khỏi. Ngày 23/10/1988 ông mất. Thượng tướng Vũ Lăng là một trong những
vị tướng tài của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hơn bốn mươi năm liên tục chiến đấu và
công tác trong quân đội, trên nhiều cương vị khác nhau, Thượng tướng Vũ Lăng đã thể
hiện phẩm chất cao quý của người đảng viên cộng sản, người cán bộ quân đội cách
mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, dũng cảm trong chiến đấu, tận tụy
trong công tác. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là tấm gương sáng về tinh thần trách