nhiều lần khiến cho bọn tay sai của thực dân Pháp ở Hóc Môn phải khiếp đảm. Nhiều
trận đánh đầy mưu trí của Biệt động thành do bà tham gia đã làm cho kẻ thù khiếp sợ.
Trận đánh đầu tiên làm cho địch hoang mang, là trận vào chợ Hóc Môn, nơi
giặc đóng quân tại chùa Ông. Đây là trận đánh nhằm nhằm hạ uy thế địch, cảnh cáo tề
ngụy, nâng cao uy thế của bộ đội để nhân dân ta phấn khởi yên tâm chờ đợi. Nhân dân
Hóc môn vẫn còn nhớ trận đánh vào đồn Chợ Cầu trên đường số 9 Hóc Môn đi Sài
Gòn. Bà đã phối hợp binh vận, dùng nội công ngoạn kích. Trận đánh diễn ra chưa đầy
10 phút, không tốn một viên đạn. Đơn vị bà còn thu được 1 khẩu FM đầu bạc, 1 khấu
Thomson, 2.000 viên đạn. trong hoàn cảnh thiếu vũ khí trầm trọng của ta khi ấy,
những chiến lợi phẩm thu được đúng là vô giá. Tiếp theo là trận pháo kích chia lửa
chống lại cuộc tấn công của địch vào Bộ Tư lệnh Khu 7 ở Giồng Dinh – Quéo Ba,
buộc địch rút về bảo vệ hậu cứ. Đơn vị của Hồ Thị Bi ngày càng lớn mạnh. Bà chọn
Rỗng Ông Hồ làm căn cứ địa, là địa điểm sinh hoạt bí mật, vừa giữ được an toàn cho
nhân dân.
Căn cứ của bà được xây dựng trên hai chiêc ghe cũ, có mái che ken lại như một
mái nhà. Chia căn cứ của mình ra thành từng cụm, từng tuyến, có vòng ngoài, vòng
trong canh gác cẩn thận, cũng có những tín hiệu, ám hiệu để nhận biết, phân biệt người
lạ mặt. Ban công tác số 12 ngày càng lập nhiều chiến công vang dội, làm kẻ địch ăn
không ngon, ngủ không yên.
Năm 1951, bà được giao nhiệm vụ đứng đầu Tiểu đoàn 999 đi gây dựng căn cứ
Dương Minh Châu (Tây Ninh) trên tuyến địa vùng biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia.
Vượt qua muôn vàn gian khó, vượt qua rào cản “cầm quân” của một tiểu đoàn trưởng,
bà cùng đồng đội hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trên tuyến biên giới đặc biệt quan
trọng này.
Khi mới tiếp nhận quân số, bà thực sự nản lòng bởi các chiến sĩ của Đoàn 999
có hơn 30 anh chị em ốm yếu, thương tật, có cả người già. Ngoài số súng đạn cần
thiết, trên lưng họ còn có thêm cuốc, xẻng, hai bịch hạt giống: bí, bầu, mướp, cải
xanh… Đoàn quân ngày càng dấn sâu vào cánh rừng, chân trần giẫm lên gai góc, rắn
rết, tay vạch đầy vắt mà đi. Vừa luồn theo rừng vừa đánh lạc hướng địch, đoàn quân di
chuyển rất chậm. Để lập nghiệp, nữ chỉ huy quyết định đi tìm nguồn nước. Bà chỉ biết
được tên dòng suối ấy trên bản đồ, còn trước mặt họ tứ bề là rừng. Cuối cùng Đoàn
999 cũng tìm ra được suối Sa Mát. Họ đã lấy dòng suối thiên nhiên này nuôi sống
mình, nuôi sống đơn vị. Đơn vị bà kết hợp với bộ đội nước bạn chống càn, chống biệt
kích. Bà đi sâu vào các phum, sóc tắm rửa cho trẻ em. “Lục thum Bi, bà Tư lệnh Tà
Nốt” trở thành cái tên đầy trìu mến trong lòng người dân Campuchia lúc ấy.
Năm 1953, bà được điều động ra Việt Bắc, vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí
Minh và được Người dành nhiều lời khen tặng với danh hiệu Nữ kiệt miền Ðông. Năm
1956, bà được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam.
Năm 1959, bà được phong quân hàm Đại úy. Năm 1965, Bà được thăng quân hàm
Thiếu tá, trở thành nữ quân nhân đầu tiên có cấp bậc quân hàm cao nhất trong Quân
đội Nhân dân Việt Nam. Từ năm 1973, tuy sức khỏe không còn như trước, bà vẫn
được Trung ương tin tưởng phái vào chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ công