Hoàng Thái Hậu Từ Dụ - Từ người con gái đất Gò Công đến bậc mẫu
nghi thiên hạ
Hoàng thái hậu Từ Dụ (tức Nghi Thiên Chương Hoàng hậu) tên thật là Phạm Thị
Hằng. Bà sinh ngày 19 tháng 5 năm Canh ngọ (tức ngày 20/6/1810) tại Gò Công (tỉnh
Tiền Giang ngày nay). Cha là Lễ bộ Thượng thư, Cần Chánh Điện Đại học sĩ, Đức Quốc
Công Phạm Đăng Hưng, một công thần của triều đình.
Sinh ra và lớn lên trong môi trường gia giáo, dòng dõi trâm anh vùng đất Gò
Công. Từ nhỏ bà đã thích đọc sách nên tinh thông kinh sử, nổi tiếng là người hiền thục,
hiếu thảo. Năm 14 tuổi, bà được Thuận Thiên Cao Hoàng hậu tuyển vào cung để hầu
Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Miên Tông (sau này là vua Thiệu Trị). Vì thế bà sớm
được tiếp thu và rèn luyện những phẩm hạnh tốt đẹp của người phụ nữ khéo biết sắp
xếp, quản lý công việc hậu cung, giữ bổn phận người con dâu hiếu thảo, người vợ đoan
chính, người mẹ hiền thục, hiểu rõ “đạo vợ chồng là luân thường quan trọng của con
người, nên từ kính trọng yêu thương mới tới tình, lễ”.
Những câu chuyện về bà được ghi lại trong sử liệu triều Nguyễn đều phản ánh
chân dung một người phụ nữ có những phẩm hạnh cao quý theo chuẩn mực Nho giáo,
đặc biệt là sự tận tụy, trung thành và hiếu kính.
Hoàng thái hậu Từ Dụ sinh được ba người con, ngoài hai người con gái, bà chỉ
có một người con trai duy nhất, đó là hoàng tử Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, sau này là
vua Tự Đức. Từ nhỏ, do thể trạng yếu nên ông được mẹ tận tay chăm sóc, nuôi dưỡng
và dạy dỗ. Cho nên, sau khi trở thành người kế vị ngai vàng, vai trò người mẹ vẫn vô
cùng quan trọng đối với nhà vua. Những lời răn dạy của bà đều được nhà vua ghi chép
cẩn thận thành tập sách mang tên Từ huấn lục và luôn mang theo bên mình để ghi nhớ
lời mẹ dặn.
Trong hậu cung, bà không chỉ là người trực tiếp hướng dẫn, xếp đặt công việc
của tam cung lục viện, mà còn tham gia ý kiến trong những việc trọng đại của hoàng
thất như chọn con nuôi cho vua Tự Đức, đặt tên hay tấn phong phi, tần của nhà vua…
Tuy được nhà vua vô cùng tôn kính, giữ lòng thành hết lòng chăm lo chu đáo,
nhưng Thái hậu Từ Dụ không vì thế mà chuyên quyền, tiêu xài hoang phí hoặc tìm cách
vơ vét của cải. Trái lại, thấm nhuần đạo lý và hiểu rõ trách nhiệm nêu gương của người
đứng đầu hậu cung. Luôn nghiêm khắc với bản thân, khoan dung với kẻ dưới, quan tâm
chăm lo cho bá tánh. Đặc biệt không thích khoa trương, tiệc tùng linh đình tốn kém. Khi
đất nước gian nguy, hậu cung cũng là nguồn an ủi, động viên và tiếp thêm sức mạnh để
quân vương giữ vững tinh thần chiến đấu.
Tháng 6 năm 1883, vua Tự Đức băng hà giữa lúc đất nước lâm nguy, nội bộ triều
đình rạn nứt trước áp lực của các quyền thần. Những thăng trầm của lịch sử dân tộc đã
khiến khói lửa chiến tranh lan cả vào nơi cung cấm, ngai vàng trở thành vị trí tiềm ẩn
nhiều nguy hiểm. Triều đình Huế bước vào thời kỳ khủng hoảng sâu sắc trước khi trở
nên suy tàn và hoàn toàn đánh mất chủ quyền vào tay thực dân Pháp. Tính từ khi vua
Tự Đức băng hà, Thái hậu Từ Dụ đã lần lượt trải qua 6 đời vua là: Dục Đức, Hiệp Hòa,
Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái. Trong suốt thời gian khó khăn ấy, với
ngôi vị cao nhất hậu cung, bà vẫn sáng suốt khi tự xác định giới hạn cho mình trong việc
can thiệp công việc của nội bộ hoàng tộc. Đồng thời bà cũng làm tốt vai trò là người giữ
vững gia đạo, không để hậu cung can thiệp vào những biến cố của chốn triều đình, mà
trở thành chỗ dựa tin cậy cho con cháu hoàng thất.
Bà mất ngày 5 tháng 4 năm Tân Sửu (nhằm ngày 22/5/1901), được triều đình
Hoàng đế Thành Thái dâng thụy hiệu “Nghi Thiên Tán Thánh Từ Dụ Bác Huệ Trai Túc