120 nam Ngay sinh dong chi Phan Dang Luu lanh dao tien boi

120 nam Ngay sinh dong chi Phan Dang Luu lanh dao tien boi

1 Page 1

▲back to top
Kniệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phan Đăng Lưu (05/5/1902 –
05/5/2022), lãnh đạo tin bi tiêu biu của Đảng và cách mng Vit Nam
Là một người có chí khí, bản lĩnh và tinh thần yêu nước nồng nàn, Phan Đăng
Lưu tham gia cách mạng từ khi còn đi học và đã trở thành biểu tượng, nim thào ca
vùng quê Hoa Thành (huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An). Tên tui và snghip cách
mng ca ông không chsáng ngi trong ssách mà còn gn bó vi nhiều địa phương
trên đất nước ta.
Phan Đăng Lưu sinh ngày 5/5/1902 tại xã Tràng Thành (nay là xã Hoa Thành),
huyn Yên Thành, tnh NghAn. Thân sinh ca ông tham gia cuc khởi nghĩa chống
Pháp ca Chu Trc ở vùng Yên Thành. Năm lên sáu tuổi, Phan Đăng Lưu theo học
chữ Hán, sau đó vào học trường tiu hc Vinh. Tt
nghip tiu học, ông thi vào trường Canh nông thc
hành ở Tuyên Quang. Ra trường vi bng tt nghip
hạng ưu, ông được bnhim làm nhân viên tp s
ti SCanh nông Bc K. Ngày 10/10/1924, ông
đến nhn vic ti Tri nuôi tm Thanh Ba (tnh Phú
Th) và một năm sau được đổi vSCanh nông
NghAn.
Ảnh hưởng từ cha mình nên Phan Đăng Lưu
sớm có tư tưởng chng thc dân Pháp, ông nhanh
chóng bt liên lc vi các thy giáo trong Hi Phc
Vit và tích cc tham gia các hoạt động yêu nước
thành phố Vinh. Tìm đọc và phbiến sách báo tiến
b, bàn lun thi cuc vi những người yêu nước và
Đồng chí Phan Đăng Lưu
ký tên vào bản yêu sách đòi thực dân Pháp trli t
do cho nhà chí sỹ yêu nước Phan Bi Châu. Biết rõ
vic làm ca ông, ngày 3/31926 SCanh nông
Nghệ An đổi ông ra tri nuôi tm Diễn Châu. Mười tháng sau, khâm sTrung K
chuyn ông vào tri sn xut trng tằm Bình Định. Ngày 7/4/1927, chúng lại đổi ông
vào làm vic ti tri nghiên cu Canh-ky-na Thượng Đồng Nai (tỉnh Lâm Đồng).
Được mt tháng, khâm sTrung Kra quyết định thi hi vì nhng hoạt động yêu
nước của Phan Đăng Lưu. Đây là một cơ hội tốt để ông trvề quê hương hoạt động.
Tháng 2-1928, Phan Đăng Lưu được kết np vào Hi Phc Vit (lúc này hội đổi
tên là Hưng Nam, sau đổi thành Tân Vit Cách mạng Đảng). Tmt công chc, ông
đã trở thành nhà hoạt động cách mng chuyên nghip trong tchc Tân Việt, được
bu làm Ủy viên Thường vca tchc này (tháng 7-1928). Cui tháng 9-1928, Phan
Đăng Lưu được Tng bTân Vit csang Qung Châu, Trung Quc tìm cách hp
nht Tân Vit với Thanh Niên, nhưng chuyến đi không thành công. Tháng 9-1929,
Tng bTân Vit li cử Phan Đăng Lưu sang Quảng Châu ln thứ hai. Khi đang ở Hi
Phòng để chun bsang Trung Quc, do có kphn bi chỉ điểm, Phan Đăng Lưu bị
mt thám bắt đưa về giam nhà lao Vinh và bTòa Nam triu NghAn kết án 7 năm
tù giam, đày lên nhà tù Buôn Ma Thuột - mt trong nhng nhà tù khc nghit nht ca
thc dân Pháp ở Đông Dương.
Cùng vi nhiu tù chính trị, đồng chí Phan Đăng Lưu bị giam cm, tra tn dã
man, nhưng vẫn kiên trì, bn bỉ đấu tranh. Cũng chính tại đây, đồng chí được chi b
Đảng kết nạp vào Đảng Cng sn Việt Nam và tham gia Ban lãnh đạo nhà tù. Đồng
chí tn dng mọi cơ hội để tuyên truyn trong bn tù chính tr; làm tbáo bí

2 Page 2

▲back to top
mt "Doãn Đê tuần báo" trong nhà tù (tun báo của người Kinh và người Ê Đê), đã
tuyên truyn, giác ngsự đoàn kết giữa người Kinh, binh lính và đồng bào Ê Đê. Đồng
chí tham gia lãnh đạo các cuộc đấu tranh trong nhà tù đòi quyền li cho tù chính tr;
đồng thi viết nhiu bài gi ra bên ngoài tcáo ti ác ca thc dân Pháp nhà tù
Buôn Ma Thut.
Giữa năm 1936, phong trào đấu tranh đòi quyền tdo, dân chvà thtù chính
trdy lên ở Pháp và Đông Dương. Thực dân Pháp ở Đông Dương buộc phi thmt
stù chính tr, trong đó có Phan Đăng Lưu. Ra tù, đồng chí vhoạt động ti Huế trong
skim soát ca mt thám Pháp. Tại Huế, ông cùng các đồng chí của mình liên lạc với
Đảng, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới bằng những bài viết trên các báo. Tháng 3 năm
1937, tại Đông Pháp Lữ quán, số 7 đường Đông Ba, Đại hội Báo chí Trung kỳ khai
mạc với sự tham gia của hơn 70 nhà báo. Phan Đăng Lưu và các nhà báo cách mạng
đã có công hướng Đại hội vào những nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa lúc bấy giờ.
Ở Huế, Phan Đăng Lưu cùng Nguyễn Chí Diểu, Hải Triều, Lâm Mộng Quang,
Trịnh Xuân An, Hải Thanh... được Đảng giao hoạt động công khai và bán công khai.
Và đương nhiên, báo chí là diễn đàn, là vũ khí đấu tranh phù hợp và sắc bén. Nguyễn
Chí Diểu chỉ đạo nội dung Báo Nhành Lúa (do Nguyễn Xuân Lữ làm Chủ nhiệm),
Phan Đăng Lưu và các đồng chí khác mua lại tờ Sông Hương của Phan Khôi, đổi tên
thành Sông Hương tục bản, mời Nguyễn Cửu Thạnh làm Chủ nhiệm, Phan Đăng Lưu
chỉ đạo nội dung và trực tiếp viết các bài xã luận, bình luận, tiểu phẩm. Báo được in tại
nhà in Vương Đình Châu ở Vinh. Trên tờ báo mới này, Phan Đăng Lưu và các đồng
chí của ông trình bày quan điểm của Đảng; phát động quần chúng đấu tranh đòi dân
chủ, tự do; tuyên truyền cho cuộc vận động Đông Dương Đại hội Trung Kỳ; giải thích
cho nhân dân biết về quyền bầu cử, ứng cử. Báo thể hiện tính giai cấp, tính chiến đấu
rất sâu sắc. Mục “Chiếu điện” của tác giả Nghị Toét - bút danh của Phan Đăng Lưu,
vạch mặt, chỉ tên bọn tay sai bán dân hại nước, dùng các âm mưu, thủ đoạn để lừa gạt
cử tri (đó là Bùi Huy Trứ, Nguyễn Quang Triệt, Cao Văn Chiểu…). Còn 18 ứng cử
viên là người của Đảng và có tư tưởng tiến bộ do Sông Hương tục bản giới thiệu, cổ
vũ đã đắc cử vào Viện dân biểu Trung Kỳ, trong đó có đồng chí Đặng Thai Mai.
Sông Hương tục bản trên thực tế đã trở thành cơ quan ngôn luận của Xứ uỷ
Trung Kỳ, ra được 14 số (từ 15 tháng 6 đến 14 tháng 10 năm 1937), sau đó bị chính
quyền thực dân thu hồi giấy phép.
Ngày 24 tháng 12 năm 1937, một số đại biểu vừa trúng cử Viện Dân biểu Trung
Kỳ qua sự gợi ý, đề xuất của Phan Đăng Lưu đã làm đơn xin xuất bản tờ báo lấy tên là
“Dân”. Hai người quản lý báo Dân là Nguyễn Đan Quế và Nguyễn Xuân Cát. Tuy
nhiên, về thực chất, đây là tờ báo của Xứ uỷ Trung Kỳ do Phan Đăng Lưu trực tiếp chỉ
đạo. Ban Biên tập có Hải Triều, Bùi Công Trừng, Nguyễn Cửu Thạnh, Lâm Mộng
Quang, Lê Bồi, Hà Thế Hanh… Báo Dân kết hợp chặt chẽ với các đại biểu tiến bộ
trong Viện Dân biểu và phong trào cách mạng của quần chúng, tạo nên sức mạnh to
lớn chống sưu cao, thuế nặng, chống áp bức, bất công, đòi tự do ngôn luận, đặc biệt là
đánh bại dự án Thuế thân và dự án Thuế điền thổ do khâm sứ Trung Kỳ đưa ra, làm
rung chuyển bộ máy cai trị ở chính nơi đầu não của chúng. Trong thành công lớn lao
ấy, Phan Đăng Lưu có những cống hiến hết sức quan trọng. Cùng với sự lãnh đạo, chỉ
đạo tài tình, sắc sảo, các bài viết của ông thực sự là những tác phẩm báo chí giàu tính
chiến đấu, tính giai cấp, tính văn hoá, tính nhân dân.
Báo Dân không tồn tại được bao lâu do kẻ địch biết đó chỉ là sự thay đổi tên gọi
của Sông Hương tục bản và đứng đằng sau tờ báo là Phan Đăng Lưu, cao hơn, là Xứ
uỷ Trung Kỳ (Báo ra được 17 số, từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1938). Cơ quan Xứ uỷ

3 Page 3

▲back to top
và Phan Đăng Lưu tiếp tục cho ra tờ Dân Tiến. Theo tuyên ngôn của Báo: “Dân là dân,
tiến là tiến tới. Dân tiến là dân tiến tới, dân cứ đi mãi. Dân có bị giết chết, bị tù, bị
phạt, bị đói… dân vẫn cứ sống, vẫn cứ tới” (Dân Tiến, số 3, ngày 17/11/1938).
Để tránh sự kiểm duyệt gắt gao của Khâm sứ Trung Kỳ, Báo Dân Tiến được
biên tập ở Huế, sau đó đưa vào Sài Gòn in ấn, phát hành ở Nam Kỳ vì ở đó, báo chí dễ
“thở” hơn. Báo Dân Tiến vẫn do Phan Đăng Lưu trực tiếp chỉ đạo, Huỳnh Văn Thanh
làm Quản lý, Lưu Quý Kỳ làm Thư ký Toà soạn. Dân Tiến lại bị nhà cầm quyền đóng
cửa. Không chịu khuất phục, Phan Đăng Lưu cho ra tiếp tờ báo mang tên Dân Muốn,
vẫn biên tập ở Huế, in và phát hành ở Sài Gòn.
Trong các năm từ 1937 đến 1939, cùng với hoạt động báo chí sôi nổi, bản lĩnh,
sáng tạo, Phan Đăng Lưu còn cho ra mắt bạn đọc các tác phẩm mang tính nghiên cứu,
lý luận như “Xã hội Tư bản”, “Thế giới cũ và Thế giới mới”, “Thơ văn các nhà chí sỹ
Việt Nam”. Là người rất gần gũi với Phan Bội Châu, được coi là Thư ký của cụ Phan,
Phan Đăng Lưu còn động viên, giúp việc để cụ Phan hoàn thành cuốn sách “Phan Bội
Châu niên biểu”. Phan Đăng Lưu cũng là người có ảnh hưởng sâu sắc đến những
người hoạt động cách mạng ở Nghệ Tĩnh và Huế lúc đó như: Trịnh Xuân An, Tôn
Quang Phiệt, Trịnh Quang Xuân, Hà Thế Hanh hay lớp thanh niên yêu nước như: Tố
Hữu, Trần Tống, Trần Quỳnh, Nguyễn Chí Thanh.
Tháng 9 năm 1939, Phan Đăng Lưu được Trung ương chỉ đạo rút vào Nam Kỳ
hoạt động bí mật. Tháng 11 năm 1939, Ông ra Việt Bắc dự Hội nghị Trung ương lần
thứ VII (tháng 11 năm 1939), được bầu làm Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng và
trở thành một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta lúc đó. Tại Hội nghị
này, ông báo cáo, phân tích tình hình ở Nam Kỳ, cho rằng tình thế cách mạng chưa
chín muồi, xin Trung ương cho hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Đề nghị của ông được
chấp thuận.
Về đến Sài Gòn tối 22-11-1940, chưa kịp truyền đạt chỉ thị của Trung ương thì
đồng chí Phan Đăng Lưu bị mật thám Pháp bắt. Trong đêm đó, đồng chí Tạ Uyên và
nhiều người trong xứ ủy, cấp ủy các cấp cũng bị địch bắt. Cơ quan đầu não lãnh đạo
khởi nghĩa không còn. Tuy nhiên, lệnh khởi nghĩa đã truyền đến các địa phương trong
toàn xứ, đêm 22-11-1940, nhân dân đã nhất tề đứng lên khởi nghĩa ở 19/22 tỉnh, thành
phố từ Biên Hòa đến Cà Mau.
Tòa án binh của chính quyền thực dân Pháp ở Sài Gòn trong các phiên xử ngày
25-3-1941 và ngày 3-4-1941 đã tuyên án tử hình đồng chí Phan Đăng Lưu. Bị dư luận
nhân dân phản đối, ngày 28-8-1941, thực dân Pháp bí mật đưa đồng chí Phan Đăng
Lưu và một số đồng chí khác ra bắn tại ngã ba Giồng, xã Tân Thới Thượng (Hóc Môn,
Gia Định). Khi bị tuyên án tử hình, đồng chí Phan Đăng Lưu vẫn bình tĩnh, kiên định,
tỏ rõ thái độ của người cộng sản kiên trung và khẳng khái: "Tôi không sợ chết… Nếu
còn sống, nhất định tôi sẽ tìm cách vượt ngục để về hoạt động cách mạng".
Đồng chí Phan Đăng Lưu hy sinh khi mới 39 tuổi và trong trang sử vàng của
cách mạng Việt Nam, của báo chí cách mạng Việt Nam, Phan Đăng Lưu có một vị trí
xứng đáng, trân trọng. Ông là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng ta,
nhân dân ta, một nhà báo cách mạng ưu tú, hết sức tiêu biểu thập niên ba mươi của thế
kỷ XX.
Cúc Nguyễn