Hồng Kông và sau đó đến tháng 10/1930, Đảng được chuyển thành Đảng Cộng sản
Đông Dương, đánh dấu thành quả kết hợp chủ nghĩa Mác–Lênin với phong trào yêu
nước, phong trào công nhân ở Việt Nam nói riêng cũng như ở Đông Dương nói chung.
Nhờ tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc không những có công
đầu trong việc chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước ở Việt Nam, mà còn
là người đầu tiên góp phần giải quyết cuộc khủng hoảng đó ở Lào, đưa sự nghiệp đấu
tranh cách mạng của Việt Nam và Lào ngày càng gắn bó với nhau, nương tựa lẫn nhau,
mở ra một trang mới trong quan hệ giữa nhân dân hai nước, cùng hướng tới mục tiêu
chung là độc lập dân tộc và tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa.
Giữa năm 1930, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam bùng lan trong cả
nước, đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh. Do sự cận kề về mặt địa lý, phong trào đấu tranh
của nhân dân Việt Nam nhanh chóng tác động và ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh
của nhân dân các dân tộc Lào. Các chi bộ Đảng và đoàn thể quần chúng ở Lào đã tiến
hành nhiều cuộc đấu tranh với nhiều hình thức: đòi tăng lương và ủng hộ phong trào Xô
viết Nghệ Tĩnh của công nhân Lào làm đường Lạc Sao, đấu tranh phản đối nhà trường
đuổi một số học sinh của chi bộ đoàn thanh niên cộng sản trường tiểu học Pháp–Việt ở
Viêng Chăn (năm 1933)…
Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp được sự đồng lõa của quân Anh, nổ súng đánh chiếm
thành phố Sài Gòn, chúng mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ, Nam Trung Bộ của Việt
Nam, sang Campuchia, Hạ Lào, rồi toàn cõi Đông Dương. Ngày 25/11/1945, Ban chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc để chỉ
đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc của ba nước Đông Dương. Chỉ thị chủ trương: “Thống
nhất mặt trận Việt–Miên–Lào chống Pháp xâm lược” và nêu rõ nhiệm vụ: “Tăng cường
công tác vũ trang tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân ở thôn quê, làm cho mặt
trận kháng Pháp của Lào–Việt lan rộng và chiến tranh du kích nảy nở ở thôn quê, đặng
bao vây lại quân Pháp ở nơi sào huyệt của chúng và quét sạch chúng khỏi đất Lào”.
Theo tinh thần đó, quân và dân các địa phương vùng giáp ranh biên giới Việt Nam–Lào
phối hợp đánh quân Pháp ở nhiều nơi. Uỷ ban Kháng chiến hành chính và Bộ chỉ huy
Chiến khu 4 (Việt Nam) thành lập Ban chỉ huy các mặt trận đường 8, đường 9 và cử một
số đơn vị phối hợp với bộ đội Lào, vừa đánh địch ở Na Pê, Xê Pôn, huyện lỵ Căm Cớt...,
vừa làm công tác tuyên truyền, vận động nhân dân gây dựng cơ sở, lực lượng kháng
chiến. Hội Việt kiều cứu quốc ở các tỉnh, thành phố của Lào động viên, kêu gọi thanh
niên tích cực gia nhập lực lượng Liên quân Lào–Việt. Chỉ trong một thời gian ngắn,
Liên quân Lào–Việt được thành lập ở nhiều nơi, trở thành lực lượng vũ trang cách mạng,
hăng hái chiến đấu chống quân xâm lược. Tiêu biểu cho tình đoàn kết và liên minh chiến
đấu của Liên quân Lào–Việt trong năm đầu của cuộc kháng chiến là trận chiến đấu bảo
vệ Thà Khẹc ngày 21/3/1946. Đây là trận đánh lớn nhất của Liên quân Lào–Việt kể từ
ngày thành lập, đã nêu một tấm gương sáng ngời về lòng dũng cảm, một biểu tượng cao
đẹp về tình đoàn kết, gắn bó keo sơn giữa quân và dân hai nước Việt Nam–Lào.
Ngày 13/3/1954, quân và dân Việt Nam mở đầu cuộc tiến công tập đoàn cứ điểm
Điện Biên Phủ. Phối hợp với chiến trường chính Việt Nam, quân và dân Lào liên tục
đẩy mạnh các hoạt động quân sự từ Bắc xuống Nam Lào để kiềm chế lực lượng địch,
đồng thời ủng hộ Mặt trận Điện Biên Phủ 300 tấn gạo chiến lợi phẩm thu được sau chiến
thắng Thượng Lào và 400 viên đạn pháo 105 ly của địch. Trải qua 55 ngày đêm chiến
đấu gian khổ, quyết liệt và anh dũng, ngày 7/5/1954 tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị
tiêu diệt hoàn toàn. Chiến công đó đã giáng một đòn quyết định vào bọn thực dân, đế
quốc, góp phần thúc đẩy quá trình tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn
thế giới. Đó là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam và cũng là thắng lợi của khối