lời hiệu triệu, cương lĩnh hành động được in ấn để tuyên truyền sâu rộng trong các
tầng lớp nhân dân. Cơ sở Đảng ở nhà máy cưa BIF đã bí mật tổ chức in hàng trăm
truyền đơn với nội dung tố cáo tội ác và hành động bóc lột của chủ hãng, đòi lập
nghiệp đoàn, đòi tăng lương, giảm giờ làm, kêu gọi công nhân đoàn kết đấu tranh.
Nhiều cuộc mít tinh được tổ chức do đồng chí Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nghĩa
trực tiếp diễn thuyết. Tại rạp hát Trần Điển (thị xã Biên Hoà) trước hàng trăm quần
chúng nhân dân. Đa phần là nhân dân và thanh niên học sinh, đồng chí Nguyễn Văn
Nghĩa đã trình bày mục đích, ý nghĩa của phong trào Đông Dương Đại hội, đồng thời
phát động quần chúng tham gia các hoạt động đấu tranh, gia nhập các hội đoàn, soạn
thảo các bản “dân nguyện”, nêu lên những kiến nghị, những yêu cầu bức xúc về các
quyền lợi dân sinh dân chủ của mỗi ngành, mỗi giới để tập hợp gởi cho phái đoàn
thanh tra của Chính phủ Pháp.
Đồng thời với các hoạt động mít tinh, tuyên truyền, hàng chục hội đoàn phổ
biến là các Hội hữu ái, Hội tương tế, Hội nhà vàng, Hội chùa, Hội miễu, Hội đá bóng,
Hội lân, Hội cày, Hội cấy,… được tổ chức nhiều nơi ở quận Châu Thành, thu hút hàng
ngàn người tham gia. Ở làng Tân Phong, các ông Nguyễn Văn Do (Năm Võ), Tư Mọi,
Ba Niên, Tám Lộc, Ba Sen và một số thanh niên tích cực như: Trần Văn Nghĩa, Ba
Bò, Tư Hoá, Năm Hoạch, Sáu Xang,… đã đứng ra tập hợp quần chúng nhân dân vào
tổ chức hội hương tế như Hội cúng miễu, Hội chùa, Hội vần công cày cấy, vận động
cả làng ký tên vào bản kiến nghị gởi chánh tham biện tỉnh Biên Hoà, yêu cầu giảm một
số thuế và bỏ hẳn những thứ thuế vô lý. Cùng với làng Tân Phong, một số xã thuộc
quận Châu Thành như: Bến Gỗ, Bình Hoà, Bình Ý,… cũng nhất loạt làm đơn đấu
tranh đòi giảm sưu, giảm thuế. Do vậy, ít lâu sau, nhà cầm quyền thực dân cũng
nhượng bộ bãi bỏ bớt thuế nhà, thuế trâu bò, thuế xe bò,.. là những thứ thuế bất hợp lý.
Chúng vẫn giữ nguyên mức thuế thân và thuế điền thổ.
Ở trung tâm thị xã Biên Hoà, nhiều hội đoàn của các tầng lớp lao động cũng
nhanh chóng được thành lập như Hội ái hữu, các ngành như: thợ mộc, thợ hồ, thợ hớt
tóc, chị em tiểu thương,… Đặc biệt, hoạt động mạnh mẽ nhất là Hội ái hữu giáo chức
do ông Hồ Văn Thể làm hội trưởng, Hội ái hữu công nhân hãng BIF, Hội ái hữu công
nhân ga xe lửa Biên Hoà thu hút được hàng trăm hội viên tham gia. Thông qua những
tổ chức công khai hợp pháp này, Đảng đã tập hợp được hàng ngàn quần chúng ở thị
xã, xây dựng được một đội quân chính trị khá đông đảo. Mặt khác, từ các hoạt động
của phong trào đấu tranh, Đảng cũng đã bồi dưỡng phát triển được nhiều cơ sở cốt cán,
nhất là trong tầng lớp công nhân lao động và thanh niên học sinh. Để tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng, khôi phục, củng cố cơ sở tổ chức Đảng ở các tỉnh, các nhà máy, xí
nghiệp, đồn điền cao su, cuối năm 1936, Liên Tỉnh uỷ miền Đông cử đồng chí Trương
Văn Bang (Ba Bang), nguyên Bí thư Xứ ủy Nam kỳ (1933-1935) và đồng chí Cao
Hồng Lãnh về Biên Hoà hoạt động, trực tiếp vận động thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh
Biên Hoà và xây dựng tổ chức một số chi bộ Đảng ở các địa phương trong tỉnh.
Tháng 2/1937, Tỉnh uỷ lâm thời tỉnh Biên Hoà được thành lập do đồng chí
Trương Văn Bang trực tiếp làm Bí thư. Các đồng chí Tỉnh uỷ viên gồm Trần Minh
Triết, Huỳnh Văn Phan, Trần Văn Tôn, Huỳnh Văn Liễn, Nguyễn Hồng Kỳ,…
Từ đây, nhiều đồng chí đảng viên khác ở các nơi cũng lần lượt về Biên Hoà
móc nối liên lạc hoạt động, tổ chức các chi bộ Đảng cơ sở. Tại nhà máy cưa BIF, 2 chi
bộ Đảng được xây dựng. Mỗi chi bộ có 3 đảng viên. Chi bộ khối thợ máy do đồng chí
Trần Hồng Đạo làm Bí thư và chi bộ lao động giản đơn do đồng chí Tư Ngàn làm Bí