Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Khái quát đôi nét về nền giáo dục Nho học ở Việt Nam
Việt Nam vốn là một dân tộc hiếu học, và truyền thống “tôn sư trọng đạo” vẫn
luôn là một nét đẹp trong đời sống văn hoá của nhân dân ta từ xưa đến nay. Bắt nguồn
từ nền giáo dục Nho học Việt Nam từ khởi nguyên đến nay, nền giáo dục nước ta trải
qua nhiều thời kì khác nhau (nền giáo dục Nho học; giáo dục thời Pháp thuộc; giáo dục
thời kỳ bảo vệ độc lập, xây dựng đất nước, giải phóng hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc
và nền giáo dục hiện nay) đã góp phần quan trọng trong việc tạo dựng nên một nền giáo
dục Việt Nam với lịch sử hàng ngàn năm văn hiến. Trong đó, Nho học được xem là hệ
tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến xã hội Việt Nam, là nền tảng đạo đức
giáo dục con người, đóng góp to lớn vào việc tổ chức nhà nước, duy trì trật tự xã hội,
phát triển kinh tế, sáng tác văn học…
Ở phạm vi bài viết này, xin được khái lược đôi nét về nền giáo dục Nho học ở
Việt Nam, để thấy những ảnh hưởng từ Nho học đến nền giáo dục nước ta như thế nào,
đồng thời chỉ ra những điểm ưu, hạn chế cùng những bài học, kinh nghiệm và truyền
thống quý giá mà nền giáo dục Nho học để lại.
Cũng như hầu hết các nền giáo dục khác thời trung cổ, giáo dục Nho học của
nước ta chưa có những ngành học về khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, sản xuất.
Trong xã hội phong kiến, nước ta chỉ có ba ngành học. Ngành thứ nhất được tổ chức
tương đối có quy củ là ngành Phật học trong các chùa chiền, ngành thứ hai có quy củ là
ngành học về quân sự, ngành thứ ba vừa có quy củ chặt chẽ, lại có quy mô lớn là ngành
học mà ta có thể gọi là Nho giáo và văn chương.
Nho giáo cung cấp những kiến thức về chính trị, đạo đức và văn chương. Mục
tiêu là đào tạo những con người biết “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, theo lý
tưởng của Nho giáo, lấy tam cương, ngũ thường làm cốt lõi; mặt khác lại lấy việc văn
hay chữ tốt, biết làm thơ, phú để làm thước đo đánh giá tài năng và chất lượng học tập...
Với phương pháp học tập kinh viện, giáo điều, Nho giáo đã có những tác động
tiêu cực: Trước hết là lối học từ chương, văn thơ phù phiếm, không có hay rất ít có tác
dụng thiết thực với đời sống xã hội. Nhân dân thời trước cũng đã phê phán cái tệ đó qua
hình ảnh anh đồ “dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm”. Ngay các nhà nho chính thống từ
những thế kỷ xưa cũng nhiều lần lên tiếng phê phán cho rằng lối học chuộng những câu
văn sáo rỗng không có ích cho việc thực hiện đạo lý của “thánh hiền” cho lý tưởng “tu
thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”; lối học này lại gắn liền với chế độ khoa cử, hướng
tất cả sự cố gắng của nền giáo dục và ham muốn của xã hội vào con đường hư danh.
Tuy thấy được những tác dụng tiêu cực nghiêm trọng như vậy nhưng các nhà nho
cũng như các vua chúa đều bất lực không đưa ra được một sự cải cách nào có ý nghĩa
về mặt này. Những ý định sử dụng chữ Nôm trong thi cử và công việc hành chính đã
được bắt đầu ở các thời Hồ Quý Ly và vua Quang Trung đều bị bác bỏ dưới các triều
đại sau đó. Do vậy, tất cả những sự thay đổi mà các triều đại phong kiến đã thực hiện
chỉ là vấn đề thuộc về hình thức như những tên gọi hoặc các chi tiết về các quy chế thi
cử, còn về nội dung, phương pháp và mục đích của việc học tập, giảng dạy, thi cử gần
như hoàn toàn không thay đổi gì.
Nhược điểm lớn đó gắn liền bản chất của Nho giáo với nội dung chủ yếu của nền
giáo dục cũ của ta. Về hệ tư tưởng, thì Nho giáo có tính bảo thủ và ý thức tồn cổ: “nói
như người xưa đã nói, làm như người xưa đã làm”; nó ràng buộc con người trong muôn
vàn giáo điều và lễ nghi. Với tư cách là một thượng tầng kiến trúc, Nho giáo đã kìm hãm
đối với toàn bộ xã hội phương Đông.