chức của Hội ở Sài Gòn - Chợ Lớn và cả Nam Kỳ.
Tháng 7/1929, đồng chí Tôn Đức Thắng bị địch bắt. Mặc dù bị giam cầm, tra tấn
dã man trong Khám lớn Sài Gòn, nhưng đồng chí luôn giữ vững khí tiết của người chiến
sĩ cách mạng kiên cường, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Tháng 02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, đồng chí đã được tin tưởng công
nhận là lớp đảng viên đầu tiên của Đảng. Không khuất phục được Tôn Đức Thắng, tháng
6/1930, tòa án thực dân Pháp đã kết án 20 năm tù khổ sai và đày đồng chí ra Nhà tù Côn
Đảo.
Suốt 15 năm liên tục bị đày đọa nơi tù ngục, đồng chí vẫn luôn kiên định con
đường cách mạng vô sản mà mình đã lựa chọn. Sự tàn bạo của nhà tù đế quốc đã không
làm khuất phục được người cộng sản Tôn Đức Thắng. Với ý chí và nghị lực phi thường,
lòng trung thành vô hạn và lý tưởng cộng sản, đồng chí Tôn Đức Thắng đã cùng với các
đồng chí của mình kiên cường đấu tranh, biến nhà tù đế quốc thành trường học cách
mạng.
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 28/8/1945, Côn Đảo được giải phóng,
đồng chí được Đảng và nhân dân đón về đất liền. Mặc dù tuổi đã cao, đồng chí vẫn tích
cực tham gia hoạt động cách mạng. Ngay từ những năm đầu cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp rồi chống Mỹ và thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc,
đồng chí Tôn Đức Thắng được Đảng và nhân dân tin tưởng giao phó phụ trách nhiều
công việc quan trọng của Đảng và Nhà nước như: Phụ trách Ủy ban Kháng chiến kiêm
Chỉ huy trưởng lực lượng vũ trang Nam bộ (1945); Phó trưởng Ban Thường trực Quốc
hội (1946); Phó Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (1946); Chủ tịch Mặt
trận Liên - Việt (1951) - Trưởng ban Thường trực Quốc hội (1955); Chủ tịch Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955) - Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa (1960), Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1969), Chủ tịch nước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1976) và nhiều trọng trách khác.
Dù ở bất cứ cương vị công tác nào, đồng chí luôn nêu cao tấm gương sáng về
lòng trung thành, sự tận tụy mẫu mực, cần, kiệm, liêm, chính, khiêm tốn, phong cách
sống giản dị, phấn đấu quên mình để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao
phó. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng luôn là niềm tự
hào của Đảng Cộng sản Việt Nam, của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.
Nét nổi bật ở Chủ tịch Tôn Đức Thắng là nhân cách của một người cộng sản chân
chính: tấm lòng yêu nước, thương dân, yêu đồng bào, đồng chí, gần gũi thân thương với
tất cả mọi người. Giữa Chủ tịch nước với người dân như không có khoảng cách. Với gia
đình, vợ con, Người luôn thuỷ chung, tình nghĩa, chăm lo chu đáo hết mực; với thân tộc,
với quê hương, bạn bè, đồng bào, đồng chí trọn vẹn nghĩa tình.
Trên mặt trận ngoại giao, đồng chí Tôn Đức Thắng đã đóng góp to lớn vào việc
thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng: tăng cường quan hệ với các nước xã hội chủ
nghĩa anh em, xây dựng quan hệ đặc biệt với nhân dân Lào, Campuchia, phát triển quan
hệ với tất cả các nước yêu chuộng hoà bình và tiến bộ trên thế giới, hình thành mặt trận
nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ. Với bạn bè quốc tế, đồng chí là người có
tinh thần quốc tế trong sáng. Luôn phấn đấu không biết mệt mỏi vì sự nghiệp hoà bình,
hữu nghị và đoàn kết giữa các dân tộc, là người bạn lớn, thuỷ chung, tin cậy và rất được
kính trọng.
Do những cống hiến xuất sắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp và trong sự
nghiệp bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng chí Tôn Đức Thắng được Đảng, Nhà
nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng – Huân chương cao quý nhất của Nhà nước
ta (1958). Ủy ban Giải thưởng Hoà bình Quốc tế Xtalin (giải thưởng này sau đó mang
tên Lênin) trao tặng giải thưởng Xtalin “Về sự nghiệp củng cố hoà bình và tình hữu nghị