Doc Tich Danh tuong tieu bieu trong thoi ky dau chong Phap xam luoc

Doc Tich Danh tuong tieu bieu trong thoi ky dau chong Phap xam luoc

1 Page 1

▲back to top
Đốc Tích – Danh tướng tiêu biu trong thi kỳ đầu chống Pháp xâm lược
Đốc Tích sinh năm Quý Sửu (1853) tại làng Yên Lưu Thượng, huyn Hiệp Sơn,
phủ Kinh Môn (nay là làng Lưu Thượng, xã Hip An, huyn Kinh Môn), tnh Hi
Dương. Những năm đầu trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông là một thủ lĩnh
kiên cường lập nhiều chiến công gắn liền với căn cứ Hai Sông (nằm giữa sông Kinh
Thày và Kinh Môn) cùng với cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy từ năm 1883 đến năm 1892.
Theo gia phtrong h, Đốc Tích vn hMc. Sau khi nhà Mc tht thế, con cháu
ca hphải phân tán đến nhiều địa phương, đổi họ tên để khi btriều đình Lê Trịnh đàn
áp. Riêng chi nhánh của ông cũng phải đổi sang hNguyễn. Tuy nhiên, theo quy định
ngm trong dòng h, khi sng thì ly hNguyễn nhưng đến khi chết thì li trli h
Mc. Con cháu dòng hnày vn cúng giông vi tên Mạc Đăng Tiết. Còn tên ca ông
thường được dùng để gi trong nhân dân khi ông còn sng và hoạt động là Nguyn Xuân
Tiết. Trong các tài liu của Pháp tên ông được ghi là Đốc Tích, hoặc Đốc Tít, có ldo
phát âm chch chTiết mà ra. Theo tác giả Đinh Xuân Lâm trong bài viết “Về Đốc Tích,
thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Hai Sông (1883 - 1889), đăng trên tạp chí Nghiên cu lch s,
số 4, năm 1992, tr.61-63 ghi: Cũng có tài liệu cho biết ông còn có tên là Nguyn Ngc
Tích, Nguyễn Đức Thin, Nguyễn Đức Hiu,…
Trong phong trào chng Pháp ở vùng đông bắc Bc Khi cui thế kXIX, ông
đã được phong chức Đề đốc tnh Hải Dương và đặt dưới quyn chhuy chung là Nguyn
Thin Thut (Tán Thut), thủ lĩnh nghĩa quân Bãi Sậy. Đốc Tích đã tập hợp nghĩa quân
ni dy chng Pháp từ năm 1883, lấy vùng Hai Sông nm gn gia hai con sông Kinh
Thầy và Đá Bạc, gm có hai cù lao: cù lao Ln và cù lao Nh, cách nhau bi mt chi
nhánh ca sông Kinh Thy, mà nhân dân địa phương quen gọi là sông Hàm Mấu. Căn cứ
Hai Sông nằm trên địa phn ca bn huyện Kinh Môn, Đông Triều, Yên Hưng và Thủy
Nguyên ca ba tnh Hải Dương, Quảng Ninh và Hi Phòng. Nhìn trên bản đồ, chúng ta
thấy rõ đây là một vùng sông núi him tr, rt thun lợi cho nghĩa quân Hai Sông hoạt
động. Khi cần, nghĩa quân có thể mrng sphi hp với các đội quân các vùng xung
quanh như nghĩa quân Tiền Đức ở ngoài đảo Cát Bà, nghĩa quân của THiện (Đề Hin)
Thái Bình, nghĩa quân của Nguyn Thin Thut (Tán Thut) ở Hưng Yên.
Cuối năm 1884, Đốc Tích chỉ huy nghĩa quân Trại Sơn đánh bật một tiểu đoàn
lính Pháp tấn công căn cứ (vùng giáp ranh phía nam căn cứ Hai Sông), gây thiệt hại nặng
cho địch, buộc quân Pháp phải tháo chạy. Có lần ông cùng quân của Nguyễn Thiện
Thuật diệt trừ nạn cướp ở phủ Kiến Thụy (Hải Phòng) và Cẩm Giàng, ông được triều
đình phong chức Quản tinh binh suất đội, rồi chức Cấm suất đội.
Khi ông hoạt động tại căn cứ Hai Sông, ông thu thuế trong vùng để nuôi nghĩa
quân, tích trữ nhiều vũ khí, quân nhu trong hang đá. Nhờ đó nghĩa quân chiến đấu được
nhiều năm. Bên cạnh sự giúp đỡ của nhân dân, nghĩa quân còn chủ động chuẩn bị lương
thực bằng cách tham gia sản xuất với nông dân, dựa vào các lũy tre làng đào hào đắp lũy,
tổ chức chống giặc càn quét và bảo vệ lực lượng. Vũ khí của nghĩa quân tự trang bị là
chính, ngoài những vũ khí thô sơ như: giáo, mác, mã tấu, đinh ba, gậy gộc,… nghĩa quân
còn sản xuất được loại súng theo mẫu súng của quân Pháp.
Năm 1885, sau khi có chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, cuộc khởi nghĩa Bãi
Sậy của Nguyễn Thiện Thuật phát triển rộng lớn, lan ra hầu hết các tỉnh đồng bằng Bắc
bộ, một phần miền núi và duyên hải. Hào kiệt các nơi theo về rất đông như: Tiến Đức ở
đảo Cát Bà, Lưu Kỳ ở Lục Nam,… Trước tình thế đó, nghĩa quân của Đốc Tích cũng ra
nhập với nghĩa quân Bãi Sậy. Tháng 10 năm 1886, vua Hàm Nghi phong cho ông
chức Đề đốc Quân vụ Hải Dương. Vào tháng 11 năm 1885, sut hai tuần, nghĩa quân

2 Page 2

▲back to top
Đốc Tích đã chống cquyết lit vi mt binh đoàn giặc do hai tên sĩ quan Falcon và
Faure chhuy đánh vào căn cứ. Chúng bắn đại bác dọn đường, rồi công binh, bộ binh
theo sau. Nghĩa quân chiến đấu rất ngoan cường, gây thiệt hại nặng cho quân Pháp.
Cuộc chiến đấu kéo dài cho đến ngày 11 tháng 12 năm 1885, nghĩa quân chủ
động rút khỏi Trại Sơn về lập căn cứ mới tại khu Cù Lao Hai Sông – một địa điểm nằm
trong địa bàn tiểu quân khu Hải Phòng của quân Pháp. Từ đó, nghĩa quân hoạt động
mạnh ở vùng này. Bên cạnh những hoạt động chống càn quét, nghĩa quân còn tập tổ
chức nhiều trận tập kích đạt hiệu quả cao. Đặc bit, ngày 8/6/1888 quân kháng chiến do
Đốc Tích lãnh đạo đã đánh một trn quyết chiến vi gic Pháp ti Thủy Động, gây cho
địch nhiu tn tht. Trong trận đánh ở Trại Sơn, nghĩa quân có 600 người thhim
trong các khe núi đá, cm cvới địch 12 ngày, sau đó thoát ra khỏi vòng vây của địch
khi chúng cho tàu chiến có trng pháo ym trtiến vào. Ngày 26 tháng 6 năm 1886,
nghĩa quân tấn công đồn bốt Pháp ở Cầu Đuống, ngày 10 tháng 7 năm 1886 nghĩa quân
của Đốc Tích tấn công đồn Đông Triều. Ngày 11 và 12 tháng 9 năm 1888, nghĩa quân
tấn công đồn Uông Bí…và thu được nhiều thắng lợi lớn.
Đối phó với nghĩa quân, giặc Pháp mt mt lp mt hthống đồn bt có lính
Pháp, lính da đen và lính khố xanh người Việt đóng giữ để kim soát từng địa phương.
Chủ đích của chúng là tách nghĩa quân ra khỏi chdựa là nhân dân để dbề đàn áp. Mặt
khác, Pháp mượn danh nghĩa triều đình Huế, phái tên Vit gian Hoàng Cao Khải, đang
làm Tổng đốc Hải Dương lĩnh chức Khâm sai, dn 1.500 binh lính hp với quân Pháp đi
vào đánh dẹp nghĩa quân, mở những đợt tn công ồ ạt vào cứ điểm. Vào cui tháng 7
năm 1889, Pháp tập trung binh lc bao vây và tn công Trại Sơn là đại bn doanh của đội
quân Hai Sông. Quân địch chia làm 4 đạo quân, vây chặt căn cứ trung tâm, ri dùng tàu
bè đi tuần tiễu ngày đêm trên các ngả sông quanh căn cứ. Nghĩa quân phải rút hết nơi này
đến nơi khác. Địch tht cht dần vòng vây, tăng cường truy quét và khng bố nghĩa quân
và nhân dân.
Trong suốt một tháng, địch tấn công liên tiếp, nhờ dựa vào thế núi hiểm trở, nghĩa
quân nhiều lần đánh địch, gây cho chúng những tổn thất nặng nề. Tuy nhiên trong quá
trình chiến đấu, nghĩa quân cũng bị hi sinh nhiều; lương thực, đạn dược cũng cạn dần,
lực lượng ngày càng giảm sút. Trong khi đó địch càng thắt chặt vòng vây. Trước tình thế
nguy hiểm trên, Đốc Tích cho giải tán nghĩa quân. Ngày 12 tháng 8 năm 1889, ông bị
địch bắt, quân Pháp bắt ông đi đánh nghĩa quân của Đề Thám nhưng ông không chấp
nhận. Tháng 1 năm 1890, thực dân Pháp đày ông sang Angiêri.
Thc dân Pháp rút kinh nghim ca vụ Đội Văn trá hàng trước đó (8/1889), nên
chúng đã quyết định đày Đốc Tích đi biệt xsang Angiêri. Trong bn báo cáo ca
Thng sBc Kỳ, ngày 1/1/1890 có đoạn viết: “Trường hp của Đội Văn sau khi ra
hàng li quay giáo tiếp tc chng lại chúng ta đã đặt cho chính quyn nhim vkhn
thiết là phi có bin pháp mạnh đối với Đốc Tích, nhằm đề phòng mt sphn trc mi.
Tuy Đốc Tích xin được trvcuc sống đời thường như Đội Văn. Đốc Tích là mt viên
quan ni lon, chkhông phi là một tướng gic. Y xut thân trong cuc chiến đấu
chng lại chúng ta trước hết là vai trò chính trvà tiếng tăm ca y trong vùng này đã có
ảnh hưởng rt lớn đối vi dân chúng. Nhiu lực lượng ni lon còn tn ti khắp nơi
buc chúng ta tuyệt đối cn thiết phải cách ly Đốc Tích khỏi môi trường này. Chúng ra
đã hứa bo toàn tính mng cho Đốc Tích, nếu đày y sang Cayenne thì chng khác nào
khép y vào ti chết và scó hu quxấu đối vi công lun. Có lẽ cách khôn ngoan hơn
cả là nên đày Đốc Tích sang Algéria.
Ngày 25/2/1890, Đốc Tích sang đến Angiêri nhưng thực dân Pháp lo ngi ông có
điều kin tiếp xúc với vua Hàm Nghi cũng vừa bị lưu đày tại đây, nên đã đưa ông đến

3 Page 3

▲back to top
Biskra. Việc lưu đày này được tiến hành bí mt, không thông qua xét x.
Trước khi đi đày Đốc Tích bgiam lng Hà Nội 5 tháng, sau đó chúng giải ông
vào Nam K. Vợ ông được tin xin đi theo chồng. Cùng đi với ông còn có người con gái
lên 5 tui tên là An. Trong thi gian Angiêri, vông sinh thêm mt cô con gái na. Ba
năm sau (1893), bà cùng người con gái thhai về nước. Còn ông và An li Angiêri.
Đốc Tích cho An đóng giả thành con trai và theo hc tại trường trung hc ni trú tại địa
phương trong 3 năm. Sau đó, cô bị phát hin và buc phi thôi hc. Năm 1903, An về
Vit Nam sng vi mẹ. Cô làm giáo viên trường nhc ti Hi Hậu, Nam Định. Năm
1914, cô ly chồng người Pháp và chuyn về định cư tại Pari. (Theo Nguyn Phan
Quang: “Đốc Tích những năm lưu đày ở Algérie”, tạp chí Nghiên cu Lch s, s1
(266), 1993, tr. 80-81).
Đốc Tích mt ti thành phBatna (Angiêri) ngày 21/12/1/916, th63 tui. Sau
đó, thi hài ông được đưa về quê nhà ngày 29/12/1917 (tức ngày 16 tháng 11 năm Đinh
T). Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Đốc Tích là một trong những
thủ lĩnh kiên cường, lãnh đạo nghĩa quân lập nhiều chiến công gắn liền với căn cứ Hai
Sông, là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của nhân dân đồng bằng Bắc Bộ cuối thể kỷ XIX,
chống thực dân Pháp xâm lược. Cuộc khởi nghĩa đã để lại nhiều bài học bổ ích, nhất là
về phương thức hoạt động và các hình thức tác chiến “du kích” của nghĩa quân ở một
vùng núi non, sông nước hiểm trở. Nhân kỷ niệm 170 năm ngày sinh của vị tướng quân
anh hùng Đốc Tích (1853 - 2023), thư viện tỉnh Đồng Nai xin giới thiệu sơ lược về tiểu
sử, cuộc đời và những cống hiến tiêu biểu của ông trong thời kỳ đầu chống thực dân
Pháp xâm lược. Đây cũng là dịp để nhân dân ta ôn lại truyền thống lịch sử hào hùng của
dân tộc; cổ vũ, động viên những người trẻ cố gắng trong học tập, lao động và sản xuất,
góp sức mình trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước văn minh và giàu đẹp./.
Đào Thanh