Đốc Tích – Danh tướng tiêu biểu trong thời kỳ đầu chống Pháp xâm lược
Đốc Tích sinh năm Quý Sửu (1853) tại làng Yên Lưu Thượng, huyện Hiệp Sơn,
phủ Kinh Môn (nay là làng Lưu Thượng, xã Hiệp An, huyện Kinh Môn), tỉnh Hải
Dương. Những năm đầu trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông là một thủ lĩnh
kiên cường lập nhiều chiến công gắn liền với căn cứ Hai Sông (nằm giữa sông Kinh
Thày và Kinh Môn) cùng với cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy từ năm 1883 đến năm 1892.
Theo gia phả trong họ, Đốc Tích vốn họ Mạc. Sau khi nhà Mạc thất thế, con cháu
của họ phải phân tán đến nhiều địa phương, đổi họ tên để khỏi bị triều đình Lê Trịnh đàn
áp. Riêng chi nhánh của ông cũng phải đổi sang họ Nguyễn. Tuy nhiên, theo quy định
ngầm trong dòng họ, khi sống thì lấy họ Nguyễn nhưng đến khi chết thì lại trở lại họ
Mạc. Con cháu dòng họ này vẫn cúng giỗ ông với tên Mạc Đăng Tiết. Còn tên của ông
thường được dùng để gọi trong nhân dân khi ông còn sống và hoạt động là Nguyễn Xuân
Tiết. Trong các tài liệu của Pháp tên ông được ghi là Đốc Tích, hoặc Đốc Tít, có lẽ do
phát âm chệch chữ Tiết mà ra. Theo tác giả Đinh Xuân Lâm trong bài viết “Về Đốc Tích,
thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Hai Sông (1883 - 1889), đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử,
số 4, năm 1992, tr.61-63 ghi: Cũng có tài liệu cho biết ông còn có tên là Nguyễn Ngọc
Tích, Nguyễn Đức Thiện, Nguyễn Đức Hiệu,…
Trong phong trào chống Pháp ở vùng đông bắc Bắc Kỳ hồi cuối thế kỷ XIX, ông
đã được phong chức Đề đốc tỉnh Hải Dương và đặt dưới quyền chỉ huy chung là Nguyễn
Thiện Thuật (Tán Thuật), thủ lĩnh nghĩa quân Bãi Sậy. Đốc Tích đã tập hợp nghĩa quân
nổi dậy chống Pháp từ năm 1883, lấy vùng Hai Sông nằm gọn giữa hai con sông Kinh
Thầy và Đá Bạc, gồm có hai cù lao: cù lao Lớn và cù lao Nhỏ, cách nhau bởi một chi
nhánh của sông Kinh Thầy, mà nhân dân địa phương quen gọi là sông Hàm Mấu. Căn cứ
Hai Sông nằm trên địa phận của bốn huyện Kinh Môn, Đông Triều, Yên Hưng và Thủy
Nguyên của ba tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh và Hải Phòng. Nhìn trên bản đồ, chúng ta
thấy rõ đây là một vùng sông núi hiểm trở, rất thuận lợi cho nghĩa quân Hai Sông hoạt
động. Khi cần, nghĩa quân có thể mở rộng sự phối hợp với các đội quân ở các vùng xung
quanh như nghĩa quân Tiền Đức ở ngoài đảo Cát Bà, nghĩa quân của Tạ Hiện (Đề Hiện)
ở Thái Bình, nghĩa quân của Nguyễn Thiện Thuật (Tán Thuật) ở Hưng Yên.
Cuối năm 1884, Đốc Tích chỉ huy nghĩa quân Trại Sơn đánh bật một tiểu đoàn
lính Pháp tấn công căn cứ (vùng giáp ranh phía nam căn cứ Hai Sông), gây thiệt hại nặng
cho địch, buộc quân Pháp phải tháo chạy. Có lần ông cùng quân của Nguyễn Thiện
Thuật diệt trừ nạn cướp ở phủ Kiến Thụy (Hải Phòng) và Cẩm Giàng, ông được triều
đình phong chức Quản tinh binh suất đội, rồi chức Cấm suất đội.
Khi ông hoạt động tại căn cứ Hai Sông, ông thu thuế trong vùng để nuôi nghĩa
quân, tích trữ nhiều vũ khí, quân nhu trong hang đá. Nhờ đó nghĩa quân chiến đấu được
nhiều năm. Bên cạnh sự giúp đỡ của nhân dân, nghĩa quân còn chủ động chuẩn bị lương
thực bằng cách tham gia sản xuất với nông dân, dựa vào các lũy tre làng đào hào đắp lũy,
tổ chức chống giặc càn quét và bảo vệ lực lượng. Vũ khí của nghĩa quân tự trang bị là
chính, ngoài những vũ khí thô sơ như: giáo, mác, mã tấu, đinh ba, gậy gộc,… nghĩa quân
còn sản xuất được loại súng theo mẫu súng của quân Pháp.
Năm 1885, sau khi có chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, cuộc khởi nghĩa Bãi
Sậy của Nguyễn Thiện Thuật phát triển rộng lớn, lan ra hầu hết các tỉnh đồng bằng Bắc
bộ, một phần miền núi và duyên hải. Hào kiệt các nơi theo về rất đông như: Tiến Đức ở
đảo Cát Bà, Lưu Kỳ ở Lục Nam,… Trước tình thế đó, nghĩa quân của Đốc Tích cũng ra
nhập với nghĩa quân Bãi Sậy. Tháng 10 năm 1886, vua Hàm Nghi phong cho ông
chức Đề đốc Quân vụ Hải Dương. Vào tháng 11 năm 1885, suốt hai tuần, nghĩa quân