nhanh vào rừng rậm, chuẩn bị sẵn thế trận để chờ địch tới. Quân địch buộc phải chia nhỏ
lực lượng, không đem theo pháo được, len lỏi vào rừng để truy đuổi nghĩa quân, chỉ khi
địch đã đến gần các công sự đã bố trí sẵn chừng vài chục mét, phơi mình trước các họng
súng chờ sẵn của nghĩa quân thì ông mới cho nổ súng giết địch ngay từ loạt đạn đầu, rồi
nếu địch còn mạnh, thì nghĩa quân lại nhanh chóng rút sang một địa điểm khác. Sau một
vài lần như vậy, kẻ địch bị tiêu hao sinh lực, chán nản, phải rút lui. Với cách đánh linh
hoạt, cơ động, Đề Thám đã hạn chế đến mức tối đa sức mạnh của địch, bắt chúng phải
đánh trong tư thế bất lợi và phát huy tối đa chỗ mạnh của nghĩa quân, nhờ đó đã làm thất
bại hầu hết các chiến dịch đàn áp của Pháp do những tướng tài chỉ huy.
Căn cứ Yến Thế ở phía tây tỉnh Bắc Giang, có diện tích rộng chừng 40 đến
50km2, gồm đất đồi là chủ yếu, có cây cối rậm rạp, gò bụi um tùm. Nhờ có chiến thuật
đánh du kích và tài năng chỉ huy của Đề Thám, nghĩa quân Yên Thế đã có thể duy trì
được cuộc chiến đấu trong gần 30 năm ròng rã. Trong cuộc đời chiến đấu của mình, có
những lúc khó khăn, Đề Thám đã phải tạm hòa hoãn với Pháp, nhưng bao giờ cũng có
điều kiện danh dự, tức là không bị mất tự do. Điển hình như: Trong cuộc giảng hòa lần
thứ nhất năm 1894, Đề Thám đòi được làm chủ bốn tổng Hữu Thượng, Nhà Nam, Mục
Sơn, Yên Lê (tức là gần hết vùng Thượng Yên Thế). Ở cuộc giảng hòa thứ hai năm
1897, Ông buộc Pháp phải cho phép khẩn hoang ở Phồn Xương, giữ được 25 tay súng
bảo vệ đất đai của mình. Trong 11 năm tạm giảng hòa, thực dân Pháp tìm mọi cách để hạ
uy tín của ông, thủ tiêu tự do của ông, nhưng ông vẫn tỉnh táo và kiên quyết giữ vững.
Đến khi giặc Pháp bội ước phản công, ông sẵn sàng tiếp tục cuộc chiến đấu và chiến đấu
đến hơi thở cuối cùng.
Đối với nghĩa quân, Đề Thám đối xử chân tình, bình đẳng, gần gũi và hết lòng
chăm sóc khi ốm đau, khi gia đình gặp khó khăn với tinh thần “có phúc cùng hưởng, có
họa cùng lo”. Nghĩa quân và nhân dân lao động ở nhiều nơi đã đến nhờ ông giúp đỡ và
ông sẵn sàng che chở, đùm bọc. Mặc dù trong tay có sức mạnh và quyền lực, nhưng
trong mấy chục năm làm thủ lĩnh, Đề Thám không bao giờ lạm dụng để trấn áp hoặc
sách nhiễu nhân dân. Ông trừng trị nghiêm khắc bất cứ nghĩa quân nào, bất cứ ai làm tổn
hại đến quyền lợi của nhân dân hoặc tình hòa hiếu giữa nhân dân với nghĩa quân. Không
những thế, Đề Thám còn luôn có ý thức chia sẻ niềm vui, nỗi buồn cùng với nhân dân
trong vùng. Ông thường xuyên đi lại thăm hỏi, hòa mình với nhân dân, sẵn sàng bỏ tiền
bạc riêng để giúp một số làng tu bổ chùa chiền (như ở làng Lèo); xây dựng đình (như ở
làng Dĩnh Thép); chữa nhà thờ (như ở làng Tân An),…. Khi dân trong vùng đói kém,
ông sẵn sàng xuất thóc giúp hoặc cho vay. Nhân dân một số làng mang ơn, thường đưa
biếu các sản vật tự làm lấy, ông vui vẻ nhận chỉ để duy trì tình hòa hiếu chứ không bao
giờ có ý sách nhiễu. Trong những ngày ở đồn Phổn Xương có cuộc vui, ông tha thiết mời
nhân dân tới chia vui. Tài năng và đức độ ấy đã khiến cho Đề Thám trở thành một thủ
lĩnh có uy tín rất lớn. Những thủ lĩnh của các phong trào kháng chiến chống Pháp cuối
thế kỷ XIX coi ông như một thủ lĩnh đáng tin cậy, coi căn cứ Yên Thế và lực lượng
kháng chiến của ông như một thành trì kiên cố. Các nhà lãnh đạo phong trào yêu nước
đầu thế kỷ XX, như Phan Bội Châu, cũng coi Đề Thám và lực lượng nghĩa quân Yên
Thế như một niềm hy vọng. Nhân dân cả nước, nhất là ở Bắc Kỳ, coi Đề Thám như một
nhân vật thần thoại, coi Yên Thế như một vùng căn cứ bất khả xâm phạm.
Trong cuốn hồi ký: La tragédie Franco – indochinoise (Bi kịch Pháp – Đông
Dương), Tome II, Delmas, Paris, 1948. Sĩ quan Pháp - Arnaud Barthouet đã phải thừa
nhận tài năng và đức độ của Đề Thám: “Nếu tôi nói, xét về mặt quân sự, Đề Thám có
trình độ của một sĩ quan chỉ huy, mọi người có thể sẽ cho tôi là đã nói điều xúc phạm. Ấy
thế mà, những cuộc hành quân quy mô để chống lại ông ta do các tướng lĩnh có tiếng chỉ