Nguyễn Văn Quỳ - Người anh hùng quê hương Biên Hòa – Đồng Nai
Nguyễn Văn Quỳ tức Chín Quỳ, sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở
xóm Đất Cuốc ven rừng chiến khu Đ, thuộc xã Tân Hòa, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên
Hòa xưa. Cả gia đình sống trong cảnh làm thuê, ở đợ cho địa chủ nhà giàu. Cha anh
mất sớm vì nạn cọp, mẹ anh thì mù lòa, đau yếu, suốt đời không ra khỏi xóm nhỏ.
Chín Quỳ và chị gái ở đợ mười mấy năm nhưng vẫn không trả hết nợ cho cha mẹ.
Chịu kiếp ở đợ, anh làm việc không ngày nghỉ ngơi cho một nhà giàu tên là Cả Chín, ở
trong xã. Anh làm rất nhiều việc, nhưng chủ yếu là vào rừng lấy củi. Vì thế, anh thông
thuộc rừng như lòng bàn tay. Một lần, chứng kiến một cảnh ăn chơi rửng mỡ của bọn
Tây và thuộc hạ của chúng, anh mới thấu hiểu tại sao bà con, đồng bào ta luôn nghèo
nàn và khổ cực. Từ đó, anh bắt đầu mơ ước một cuộc sống ấm no, hạnh phúc đến với
xóm nghèo quê anh.
Cuộc sống bần cùng đói khổ với những mâu thuẫn trong xã hội giàu nghèo
ngày càng thôi thúc anh tìm một lối thoát khỏi kiếp tôi đòi và giải phóng cho đồng bào
ta hết khổ. Dần dần, anh tìm gặp được những đường lối, khuynh hướng giải phóng nơi
các đồng chí cách mạng như: Nguyễn Văn Nghĩa, Nguyễn Văn Chíp, Lê Văn Tôn,
Nguyễn Hồng Kỳ, Huỳnh Liễng... Những ngày ấy, phong trào Dân chủ Đông Dương ở
Tân Uyên đã cuốn hút Chín Quỳ tham gia vào tổ chức cách mạng và góp nhiều công
sức để tổ chức hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng giao phó. Vì thế, trong một buổi tối đầu
năm 1937 tại miễu Đất Cuốc, chi bộ Đảng Cộng sản xã Mỹ Lộc, Tân Uyên đã chính
thức kết nạp Chín Quỳ vào Đảng. Kể từ lúc này, đồng chí Chín Quỳ càng thêm hăng
hái hoạt động cách mạng. Địa bàn hạt động của đồng chí vẫn là rừng Tân Uyên sâu
thẳm, nơi mà đồng chí hiểu tường tận nhất.
Tháng 7-1940, để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, tỉnh Biên Hòa đã bí
mật xây dựng lực lượng vũ trang tại quận Châu Thành và Tân Uyên do đồng chí
Huỳnh Liễng chỉ huy. Đơn vị vũ trang gồm 35 người, có trang bị vài khẩu súng
trường, giáo, mác, gậy tầm vông hoạt động chủ yếu ở vùng rừng Tân Uyên do Chín
Quỳ trực tiếp chỉ huy. Sau đó, khởi nghĩa Nam kỳ nổ ra vào đêm 22 rạng ngày 23-11-
1940, nhưng do kế hoạch bị lộ nên đã sớm bị thực dân Pháp dập tắt. Khởi nghĩa Nam
kỳ bị thất bại, các chi bộ Đảng ở Tân Uyên bị tan rã đồng chí Huỳnh Liễng hy sinh,
các đồng chí Lê Văn Tôn và Nguyễn Hồng Kỳ bị bắt đày đi Côn Đảo. Không còn
người lãnh đạo trực tiếp, lại mất liên lạc với Đảng, đồng chí Chín Quỳ đã gánh lấy
trách nhiệm phụ trách đơn vị vũ trang trong tình thế vô cùng khó khăn.
Trước sự truy lùng gắt gao của địch, Chín Quỳ đã tập hợp khoảng một tiểu đội
vũ trang còn lại rút vào rừng sâu. Để duy trì được lực lượng, không còn cách nào khác,
Chín Quỳ đã mạnh bạo tổ chức đánh cướp của cải, tài sản của bọn địa chủ giàu có,
chia cho người nghèo và để có lương thực, thực phẩm nuôi quân. Hoạt động theo kiểu
giang hồ hảo hán của Chín Quỳ đã làm cho bọn Tây và tay sai cho Pháp phải nhiều
phen ngao ngán. Chúng bắt đầu sợ và treo giải thưởng cho người nào bắt được “Tướng
cướp Chín Quỳ”, nhưng khó lòng làm được. Anh chủ trương cướp của địa chủ, cường
hào ác bá chính là giành lại của cải của dân nghèo đã bị chúng bóc lột. Triết lý của anh