Kỷ niệm 195 năm Ngày sinh vị anh hùng Nguyễn Cao (1828 – 2023)
Nguyễn Cao tên thật là Nguyễn Thế Cao sinh năm 1828 tại làng Cách Bi (tục gọi
là làng Gạch), xã Cách Bi, huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc ( nay là huyện Quế Dương, tỉnh
Bắc Ninh).
Cha ông là Nguyễn Hạnh, đỗ cử nhân khoa Tân Mão (1831), làm Tri huyện Thủy
Đường. Thân mẫu là Nguyễn Thị Điềm, tục gọi là Bà Huyện Quế Dương, thuộc dòng
họ võ quan Nguyễn Đức ở Quế Ô. Tuy nhiên, ông đã phải mồ côi cả cha lẫn mẹ khi còn
rất nhỏ, ông sống nương nhờ vào tình yêu thương của họ nội và họ ngoại, nên vẫn được
nuôi dạy hết sức chu đáo.
Ngay từ nhỏ, ông đã có trí thông minh và học giỏi hơn người. Năm 1867, Nguyễn
Cao đã đậu đầu trong kỳ thi Hương Đinh Mão tại Hà Nội.
Quý mến tài học của Nguyễn Cao, Phạm Thận Duật đã tặng ông hai câu thơ: (dịch)
Khoa Đinh Mão tên đề số một
Người Quế Dương tài vượt tám ngàn.
Dù đậu cao, nhưng ông không ra làm quan mà trở về quê hương mở trường dạy
học. Khi giặc Pháp tiến quân đánh Bắc kỳ lần thứ nhất, năm 1873, Nguyễn Cao mộ được
đông đảo nghĩa quân đánh Pháp ở Gia Lâm, Thuận Thành. Vì ông từng giữ chức Tán lí
quân vụ chống Pháp, nên thường gọi là Tán Cao.Nhưng qua năm sau, triều đình Huế
thỏa hiệp, ký hiệp ước năm 1874, ông buộc phải giải tán nghĩa quân. Sau đó, nhân việc
ông có công lao trong việc đánh dẹp Thanh phỉ, triều đình ép ông giữ chức tri huyện
Yên Dũng, rồi thăng tri phủ Lạng Giang. Ông làm quan rất thanh liêm, hết lòng lo lắng
đến đời sống dân chúng, trong lời tâu về triều đình, quan tỉnh xác nhận: “Trộm khiếp sợ
Nguyễn Cao như thần, dân chúng thân thiết như cha”. Nguyễn Cao làm quan rất thanh
liêm, lại có công trong việc khai hoang lập ấp ở Nhã Nam, Phú Bình, nên được thăng
chức Án sát Nam Định, rồi Bố chánh Thái Nguyên.
Thực dân pháp đánh chiếm Bắc kỳ lần thứ hai năm 1882, ông lại đem nghĩa quân
ra nghênh chiến. Đội quân của ông phối hợp với nghĩa quân của Nguyễn Thiện Thuật,
Ngô Quang Huy trấn giữ miền Đông Bắc, đã tiến về đánh nhiều trận ở xung quanh Hà
Nội và lập được nhiều chiến công.
Ngày 18/5/1883, ông bị thương nặng trong một trận đánh ở Gia Lâm. Sau khi lành
vết thương, ông được cử giữ chức Tán tương quân vụ Bắc kỳ (nhân dân thường gọi là
ông Tán Cách Bi). Sau đó, Bắc Ninh, Nhã Nam thất thủ, Nguyễn Cao lánh về Kim Giang
(nay thuộc huyện Ứng Hoà – Hà Tây) dạy học.
Năm 1885, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương đánh Pháp, ông lại mộ quân
phối hợp với Nguyễn Thiện Thuật, Ngô Quang Huy, Tạ Hiện lập “Đại nghĩa đoàn” lãnh
đạo chống Pháp ở ba tỉnh: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương. Trước sức mạnh của quân
xâm lược, nghĩa quân kháng chiến dần dần thất thế.
Ngày 27/3/1887, Nguyễn Cao bị giặc bắt tại làng Kim Giang. Chúng đưa về Hà
Nội giam giữ và dùng cực hình tàn bạo. Những đòn khảo tra không làm lung lay ý chí
của ông, chúng diễn màn dụ dỗ, mua chuộc, nhưng Nguyễn Cao kiên quyết cự tuyệt.
Ông đã dùng những lời lẽ đanh thép để vạch trần dã tâm xâm lược của thực dân Pháp
và hành động bán nước của bọn tay sai, sau đó ông tuẫn tiết trong ngục tù… Không dụ
hàng được ông, chúng đã xử chém ông ở pháp trường Vườn Dừa, nay là Quảng trường
Đông Kinh Nghĩa Thục bên bờ hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội vào chiều ngày 14/4/1887.
Trước lúc ra đi, Nguyễn Cao đã để lại bài thơ Tự phận ca (Bài ca biết phận) bộc lộ
tâm trạng bị phẫn của một tầng lớp nho sĩ trước thời vận mất nước. Trích một đoạn (Lê
Xuân Giáo dịch):