chiếm Uông Bí, tổ chức tiến công giải phóng thị xã Quảng Yên - tỉnh lỵ duy nhất ở miền
Bắc được giải phóng trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Từ chiến khu Đông Triều,
đồng chí đã chỉ huy các lực lượng vũ trang cách mạng phối hợp với nhân dân dưới sự
lãnh đạo của Đảng, tổ chức giành chính quyền ở thành phố Hải Phòng, Kiến An và Hải
Dương. Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được trung ương giao làm Khu
trưởng Khu Duyên Hải Bắc bộ (nay thuộc Quân khu 3). Đồng chí đã có công lao to lớn
trong việc bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ ở vùng Duyên Hải Bắc bộ.
Tháng 10/1945, thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta và gây hấn ở Nam bộ.
Trước tình thế bất lợi, một bên là quân xâm lược được trang bị vũ khí đầy đủ, một bên
là các lực lượng kháng chiến còn trứng nước lại bị xé nhỏ, phân tán, đồng chí Nguyễn
Bình được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp động viên giao nhiệm vụ vào Nam bộ, ban
đầu với trọng trách là phái viên của Trung ương, của Cụ Hồ và sau đó giữ chức Khu
trưởng Khu 7. Năm 1946, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm
1947, đồng chí là Ủy viên Quân khu ủy Quân khu 7, được Trung ương bổ nhiệm làm
Tư lệnh Nam bộ, đồng chí là Ủy viên Xứ Quân ủy. Đầu năm 1948, đồng chí được Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh phong hàm cấp Trung tướng. Đồng chí là một trong những
tướng lĩnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được phong hàm khi tuổi 40.
Trên cương vị Khu trưởng Khu 7, rồi Tư lệnh Nam bộ, với uy tín và tài trí của
mình, đồng chí đã cùng Khu ủy và Xứ ủy Nam bộ có những quyết định đúng đắn, giải
quyết được những vấn đề cơ bản. Ngày 22/11/1945, đồng chí đã triệu tập Hội nghị quân
sự Nam bộ tại An Phú xã nhằm thống nhất các lực lượng vũ trang đặt dưới sự lãnh đạo
của Đảng, cùng với chủ trương tập trung xây dựng lực lượng chủ lực làm nòng cốt, đồng
chí đã chú trọng lãnh đạo, phát động chiến tranh du kích ở Sài Gòn – Chợ Lớn và các
tỉnh Nam bộ. Sau khi Sài Gòn bị địch chiếm đóng, một mặt vừa chỉ đạo tác chiến đánh
địch ở vòng ngoài, mặt khác đồng chí đã chỉ đạo đưa chiến tranh du kích vào lòng địch.
Các Ban công tác Thành được thành lập và đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Nhiều
lần đồng chí đã dũng cảm táo bạo một mình vào tận hang ổ sào huyệt địch để thị sát nắm
địch, chỉ đạo tác chiến. Đồng chí là một trong những cán bộ có công lao to lớn đối với
sự nghiệp xây dựng chiến đấu của quân dân miền Đông Nam bộ từ những ngày đầu đầy
gian nan thử thách và có những đóng góp lớn vào việc chỉnh đốn xây dựng chính quyền
và củng cố mặt trận dân tộc thống nhất Nam bộ.
Năm 1951, trên đường ra Bắc báo cáo Trung ương, đồng chí bị địch phục kích và
đã hy sinh ngày 29/9/1951 tại phum KpalRô Mia, xã Srê Pốc, huyện Sê San, tỉnh Stung
Treng, Campuchia. Phần mộ của đồng chí đã được nhân dân và lực lượng cách mạng
Campuchia gìn giữ gần nửa thế kỷ, đến ngày 29/2/2000, hài cốt của Trung tướng Nguyễn
Bình đã được đưa về Việt Nam trong vòng tay yêu thương của gia đình và đồng đội.
Từ những buổi đầu tham gia cách mạng đến lúc hy sinh, trước sự tra tấn giam cầm
trong lao tù thực dân đế quốc hay trên các chiến trường quyết liệt, Trung tướng Nguyễn
Bình luôn giữ trọn khí tiết cao quý của người cộng sản, trung thành với sự nghiệp cách
mạng, một lòng một dạ chiến đấu vì Tổ quốc, vì nhân dân, hoàn thành xuất sắc mọi
nhiệm vụ được giao. Với đồng bào và đồng đội, đồng chí là người sống có tình, có nghĩa,
trung thực, thẳng thắn, luôn nghiêm khắc, quyết đoán trong xử lý mọi tình huống, đồng
chí luôn tôn trọng nhân tài, đã cảm hoá, động viên các nhân sĩ trí thức yêu nước phát
huy tài năng phục vụ cách mạng.
Trung tướng Nguyễn Bình là một người cộng sản kiên trung, một tướng lĩnh quả
cảm nghĩa hiệp, giàu đức hy sinh, lòng dũng cảm và tài thao lược, đồng chí đã có những
cống hiến to lớn đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tên
tuổi của Trung tướng gắn liền với chiến khu Đông Triều, chiến khu Duyên Hải Bắc bộ