210 nam ngay sinh cua De tam giap Tien si Doan Khue

210 nam ngay sinh cua De tam giap Tien si Doan Khue

1 Page 1

▲back to top
Kniệm 210 năm ngày sinh của Đệ tam giáp Tiến sĩ Doãn Khuê
Đệ tam giáp Tiến sĩ Doãn Khuê xut thân khoa bng, là một văn quan đỗ đạt
cao, tinh thông Nho hc và còn nhim cchút Lão Trang. Làm quan gia thi buổi đất
nước gp ha ngoi xâm, triều đình thì bạc nhược hèn yếu, ông phi ra tay làm nhng
công vic ca mt nhà binh. Ông là mt trong nhng vị quan đầu có tư tưởng đánh
đuổi thực dân Pháp xâm lược; chng gic phỉ ở biên cương; mdân, di dân hoang hóa
mrng vùng biển Nam Định. Nhng vic làm và li bàn của ông đã chứng tông là
vị tướng quân đức độ, tài cao. Không chlà một quan văn, quan võ, ông còn là một
người thy tâm huyết, truyn dy nhng tri thc cho bao thế hhc trò ca mình.
Nhiều người sau này trthành nhân tài, phng sTquc. Nhân knim 210 ngày
sinh của Đệ tam giáp Tiến sĩ Doãn Khuê (1813 - 2023), và kniệm 145 năm ngày mất
ca ông (1878 - 2023), Thư viện tỉnh Đồng Nai xin gii thiệu sơ lược vtiu s, s
nghip của ông đến đông đảo người dân trong và ngoài tnh. Giúp bạn đọc có thêm
kiến thc vlch strong những năm đầu kháng Pháp và hiểu hơn về cuộc đời ca
quân thn trung kiên - Doãn Khuê.
Doãn Khuê tên tlà Bo Quang, sinh ngày 15 tháng 10 năm Quý Du (1813)
ti làng Ngoi Lãng (nay là xã Song Lãng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình). Cha ca
Doãn Khuê ni tiếng là người hay chữ nhưng không tham gia thi c.
Khi lên 9 tuổi, Doãn Khuê được cha dy bảo chu đáo. Song vì cảnh nhà nghèo
túng nên cha phi gi ông sang nhà bác h(cTú Cả) để vừa chăn trâu vừa tiếp tc
được hc. Khi Doãn Khuê mi 11-12 tuổi đang theo hc cTú Cvà có nhiu trin
vng thì cha mlần lượt qua đời. CTú Cả thương cháu càng quyết tâm cho Khuê hc
tp. Doãn Khuê được csang hc cPhm Diu (thân phca Tiến sĩ Phạm Thế
Hin) Luyến Khuyết (xã Thy Phong, huyn Thái Thy, tnh Thái Bình).
Năm Đinh Dậu (1837), khi va tròn 25 tui, Doãn Khuê dự thi và đỗ Cnhân.
Năm sau – Mu Tut (1838) ông vào dthi Hội và đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ cùng khoa
bng vi Hoàng giáp Phạm Văn Nghị.
Sau khi thi đỗ, ông được vào làm vic Vin Hàn lâm (1839), rồi thăng lên làm
Tri phủ Ứng Hòa, Đông, Hà Nội. Năm đầu thi Thiu Trị (1841) ông được b
nhim làm Hàn lâm vin Tha chkiêm Giám sát Ngsử đạo Lng - Bình (Lng
Sơn - Cao Bng). Cuối năm 1842, ông lại được điều ra nhn chc Giáo thXuân
Trường, mt phủ ở tỉnh Nam Định. Đảm nhn chc Giáo thụ được 5 năm thì ông cáo
quan vnhà dy hc năm 1847.
Mười năm ở nhà dy học cũng là 10 năm ông ở ẩn gt bmi danh vng, bng
lộc quan tước để sng vi cuc sng thanh bch ca mt nhà giáo. Nghe tin Doãn
Khuê mlp dy hc ở quê hương thì học trò sĩ tử các nơi theo về hc rất đông. Nhà
hc ca Doãn Khuê thc sự là nơi đào tạo nhiu nhân tài cho đất nước.
Khi gic Pháp nổ súng đánh Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lăng nước ta, Doãn
Khuê là người có thái độ dt khoát chchiến. Ở Nam Định, khi Phạm Văn Nghị đứng
ra chiêu tập nghĩa sĩ kéo vào Đà Nẵng đánh Pháp đã đề cDoãn Khuê - Người bn
đồng khoa, đồng chí với mình làm Đốc học Nam Định. Doãn Khuê vui vẻ đảm nhn
thay bn.
Năm Canh Thân (1860), Doãn Khuê đứng ra chiêu tp các viên giáo, hun, tri
ph, tri huyn trong vùng cùng nhau ký vào bn mt tu gi vào triều đình kiên quyết
phản đối vic nghhòa. Các ông khng nghhòa là hng”. Doãn Khuê đi nhiều nơi tổ
chc các lp hc các phhuyn, kêu gi thành lập các đội, đoàn luyện tp võ ngh
sn sàng tiếp ng cho quân đội ca Phạm Văn Nghị.

2 Page 2

▲back to top
Đầu năm 1861, Doãn Khuê được bnhim chức Đốc học Sơn Tây. Đến Sơn
Tây lúc đó, bn thphni lên quy ri ddi, nhiu toán quân phtừ đất nhà Thanh
tràn qua cướp bóc, giết hi nhân dân. Trước tình hình đó, Doãn Khuê xin chiêu m
người tài mnh khe ri y cho con trai ông là Doãn Chi trông coi, theo đi đánh giặc
ph. Năm ấy, Doãn Khuê cùng vi Hip quản Hưng hóa là Nguyễn Văn Thành hp
quân, đánh thắng gic Cờ Đen, lấy lại được huyn Thanh Ba, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc
Phú Th), tiến lên ly lại được các châu Yên Lập và Văn Chấn (nay thuc Yên Bái),
bắt được tên tướng gic Cờ Đen đem đi giết. Doãn Khuê còn đánh lấy lại được ph
Lâm Thao (nay thuc Phú Th). Sau nhng thng li này, Doãn Khuê li trvvi
chc vcủa mình là Đốc học Sơn Tây.
Năm 1867, Doãn Khuê được triều đình cử làm Thương biện Hi phòng s,
chuyên trông coi mn biển Nam Định. Để tăng cường vic phòng th, ông đã đi xuống
thực địa xem xét các ca sông từ Ninh Bình đến Hải Dương, kiểm tra các đồn tri,
cng bến, xem xét vic bphòng của các đề đốc, lãnh binh...
Lúc đó, có ông Nguyn Huy Tề, người vừa được triều đình cử đi công cán ở
Hương Cảng (Hng Kông) trv. Ông này xin triều đình cho mở phố thông thương ở
ca biển Trà Lý. Dưới con mt thc tiễn, Doãn Khuê đã làm tập tu gi vtriu đình
phn bác ý kiến trên. Ông cho rng không thmcng ca biển Trà Lý được vì điều
kin phù sa bi đắp hàng năm rất ln, thy triu không thun li cho tàu thuyn ln ra
vào. Kèm theo ông còn đưa ra những đề nghị như: Chn cn thận quân đội có lc
lượng tinh khỏe phòng khi dùng đến; Các tnh ven bin phi phòng bnghiêm cn,
chun bthuyn bè, sửa sang binh khí để tiếp vin; Hiu thị rõ điều cấm để ngăn cn tà
đạo gian di; Thu phục nhân tâm, giúp đỡ điền hái, thu dng thdân 6 tnh Nam K.
Đặt li chc ThTy ven biên gii Bc Kỳ,… Nhưng đề nghcủa ông không được
triều đình chấp thun.
Trong lúc cha con Doãn Khuê đang tập trung vào công vic khai hoang thì
Nam Kc6 tỉnh đã bị rơi vào tay thực dân Pháp. Doãn Khuê mt mt cùng các
phu phản đối triều đình ký hòa ước, mặt khác ông cũng nhận mnh triều đình trở li
chức Thương biện Hải phòng kiêm Doanh điền scùng vi Phạm Văn Ngh, Nguyn
Mu Kiến tchc lực lượng kháng chiến chng Pháp ở Nam Định. Cùng với đội quân
ca Phạm Văn Nghị, Doãn Khuê cũng đang chuẩn bkế hoạch đánh lấy li tnh thành
Nam Định thì triều đình ra lệnh bãi binh thc hiện hòa ước: Pháp trli 4 tnh Bc K,
còn triều đình Huế phi trao 6 tnh Nam Kcho chúng (năm Giáp Tut 1874).
Sau ln phi thc hin lnh triều đình, phải bãi binh và chịu án để mt thành
Nam Định, Doãn Khuê cùng Phạm Văn Nghị, Đỗ Phát nht lot xin tquan vdy
hc. Những năm cuối đời Doãn Khuê dn hết tâm lc vào công vic dy học, đào tạo
và truyn thụ lòng yêu nước, chí căm thù giặc cho thế htiếp theo gánh vác nhim v
giải phóng đất nước.
Cuối năm Giáp Tuất (1874), vua Tự Đức trong li bình hiu thcác quan li và
sĩ dân ở Bc Kỳ đã thừa nhn phm cht và tiết tháo của Doãn Khuê và các nho sĩ
khác: “Phạm Văn Nghị, Doãn Khuê, Đỗ Phát các người ấy cũng là nhà nho lão luyn,
là vị hưu quan, thế mà biết vì nước dy bảo dân, không đến nỗi để lo cho triu
đình,…(Trích trong Đại nam lit truyn chính biên, tp 3, tr. 132). Vua cũng dụ B
Lrằng: “Doãn Khuê và Phạm Văn Nghị vhọc hành được sĩ phu ở Nam Định kính
trng bắt chước, thực vì nước, nên chính được phong hóa và ràng buộc được lòng
người” (Theo Đại nam lit truyn chính biên, tp 4, tr. 189).
Sau mt thi gian lâm bnh, ông mất vào ngày 15 tháng 10 năm Mậu Dn
(1878) ở quê hương Nam Định, trong nim tiếc thương vô hạn ca nhân dân, hc trò,

3 Page 3

▲back to top
bạn bè và gia đình. Ông mất đi nhưng tinh thần yêu nước, thương dân, tm lòng cao
c, hc thc uyên thâm ca ông vẫn được truyn dy trong nhiu thế h. Tiếp ni
truyn thng tốt đẹp ca cha, các con của ông đều nặng lòng yêu nước, tham gia đánh
gic gìn giữ hòa bình cho vùng biên cương. Trong số đó, có Doãn Chí làm đến chc
Tán tương quân vụ ri bhi sinh trong trận đánh với gic phỉ ở Lạng Sơn. Mộ ca
Doãn Chí được thờ ở đền Trung Nghĩa.
Sáu mươi lăm tuổi đời, bn chục năm làm quan, trải qua gn trn bốn đời vua
đầu triu nhà Nguyn, Đệ tam giáp Tiến sĩ Doãn Khuê đã dồn hết tâm nguyn cho vic
canh tân đất nước. Nhưng hoạn lcủa ông cũng lắm chông gai, vi mt lòng yêu
nước, thương dân, tính tình ngay thẳng, ông đã mấy ln bị cách lưu, giáng chức, có lúc
phi từ quan, trước thc tế quan trường c hiếp dân chúng, còn Triều đình thì làm ngơ,
tmình thy có trách nhiệm nhưng bất lc. Cui cùng dưới thi Tự Đức, ông cũng đã
ban phong thbài Quý tHiếu Nghĩa.
Cuộc đời và snghip ca Doãn Khuê là tấm gương sáng cho đời sau vtinh
thần yêu nước, thương dân, chăm lo cho tiền đồ dân tc. Ccuộc đời ông chuyên lo
hành xvi việc đánh Pháp, đào tạo nhân tài, mdân, di dân hoang hóa vùng bin
Nam Định, thau chua ra mn, ci tạo đồng đất ven bin. Knim 210 ngày sinh và
145 năm ngày mất của Đệ tam giáp Tiến sĩ Doãn Khuê là dịp để thế htrtlòng
ngưỡng vng, đời đời ghi nhớ công lao, đức độ ca ông với quê hương, đất nước. T
đó phát huy tính tự lc, tự cường trong hc tập và lao động, góp phn xây dng T
quc Việt Nam ngày càng văn minh, giàu đẹp./.
Đào Thanh