dưới thời Tự Đức đã mang lại kết quả nhất định: Trong 6 tỉnh Nam kỳ, nhà Nguyễn đã
có thêm 21 cơ (mỗi cơ 500 người) cộng với 4 cơ sở ở sông Vĩnh Tế, tổng cộng là 12.500
người, cùng làng mạc hơn 100 ấp.
Năm 1858, khi thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng, Phạm Thế Hiển khi đó đang
giữ chức vụ Tham tán Đại thần Quân thứ Quảng Nam (trông coi việc biên phòng), được
Tự Đức cử làm Phó tướng cho Nguyễn Tri Phương. Sau khi quân Pháp đánh chiếm
thành Gia Định, ông được cử chức vụ Quân thứ Gia Định, cùng vào Nam với Tổng
thống quân vụ Nguyễn Tri Phương, ra sức xây dựng Đại đồn Chí Hoà để bao vây và bức
rút quân Pháp như chiến thuật đã được vận dụng ở Đà Nẵng. Trong vòng 1 năm ông đã
tổ chức 60 trận đánh lớn nhỏ chống Pháp. Để chiến đấu lâu dài với địch, Phạm Thế Hiển
đã cùng Nguyễn Tri Phương đắp đồn kiên cố, đắp luỹ dài dọc từ bờ biển vào phía trong
để bao vây địch ngoài mé biển, chặn không cho chúng đi sâu vào nội địa... Giặc Pháp
cứ mỗi lần đánh vào đều bị quân dân ta đánh bật trở lại, thiệt hại khá nặng, cuối cùng
đành rút đại bộ phận quân lính kéo vào đánh Gia Định (tháng 02/1859).
Tháng 12/1860, Tham tán quân thứ Quảng Nam kiêm Tổng đốc Định Tường,
Biên Hòa Phạm Thế Hiển được vua Tự Đức cử giữ chức Tham tán quân thứ Gia Định
để cùng với Nguyễn Tri Phương mưu việc đánh giặc Pháp. Vừa vào tới nơi, Tham tán
Phạm Thế Hiển được Nguyễn Tri Phương cử về các phủ huyện tổ chức dân binh, huấn
luyện quân sự, trang bị vũ khí cho họ để họ hỗ trợ, tiếp ứng cho quân Triều đình khi
quân Pháp tới đánh. Vào tới Gia Định, ông cùng Nguyễn Tri Phương lo bố phòng lại lực
lượng, chiến lũy Chí Hòa được củng cố mở rộng. Hai ông cho áp dụng nhiều cách đánh
địch: tập kích quấy rối, phục kích đánh địch khi chúng ra khỏi đồn.
Ngày 23 tháng 2 năm Tân Dậu 1861, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đưa toàn bộ
lực lượng mạnh gồm 8.000 quân với 30 tàu chiến các loại tấn công đại đồn Chí Hòa.
Suốt hai ngày hai đêm, quân ta chiến đấu dũng cảm, gây nhiều tổn thất cho giặc. Song
bên ta cũng bị tổn thất nặng nề,… Ngày 24 tháng 2 năm 1861, được sự đồng ý của
Nguyễn Tri Phương, Phạm Thế Hiển lệnh cho Lê Tố, Lê Hóa ở tiền đồn mở đường rút
quân về thôn Tân Tạo, huyện Tân Long, phủ Tân Bình là tỉnh lỵ lâm thời của tỉnh Gia
Định… Triều đình nhà Nguyễn hoang mang, chia thành hai phái: chủ chiến và chủ hoà.
Phạm Thế Hiển dứt khoát đứng về phe chủ chiến. Thực dân Pháp đánh thành Gia Định
(25/2/1861), ông cùng Thống đốc Nguyễn Tri Phương chỉ huy quân sĩ giữ thành. Nhưng
Thống đốc Nguyễn Tri Phương bị thương, một mình Phạm Thế Hiển phải lo đốc chiến.
Trước thế mạnh của giặc, ông đành cho quan quân lui về chợ thôn Tân Phú tạm nghỉ,
sau đó rút về đóng ở Biên Hoà để củng cố lực lượng. Tin đại đồn Chí Hoà thất thủ, vua
Tự Đức triệu ông về kinh báo cáo gấp, nhưng trên đường về, ông lâm bệnh nặng và mất
sau đó (tháng 8/1861), hưởng dương 58 tuổi. Trên đường đưa linh cữu về quê, nhân dân
các tỉnh đều ra nghênh đón, tế lễ tỏ lòng tôn kính ông.
Có thể nói, Phạm Thế Hiển là vị quan có tài kinh bang tế thế, văn võ song toàn,
một con người hiếu học, vị quan thanh liên luôn luôn khao khát thiên hạ thái bình. Ông
là con người hành động và hành động kiên quyết. Tấm gương chiến đấu dũng cảm, bất
khuất và cái chết vì nghĩa lớn của ông đã góp phần không nhỏ khích lệ, cổ vũ nhân dân
và sĩ phu ở cả hai miền Nam Bắc xả thân chống giặc.
Hơn 2 thế kỷ đã trôi qua, những cống hiến của ông vào sự nghiệp dựng nước và
giữ nước đã được lịch sử ghi nhận. Ông là danh nhân của đất nước trong thế kỷ XIX,
Phạm Thế Hiển, một nghị sử đài chân chính, một võ tướng giàu lòng yêu nước, quên
mình vì xả tắc, một nhân vật kiệt xuất của đất nước Việt Nam. Với tất cả đức tính cao
đẹp của mình, ông đã để lại cho đời, cho thế hệ hôm nay và mai sau những bài học vô